15:07 ICT Chủ nhật, 20/08/2017

Trang nhất » Tin Tức » Công lý và Nhân quyền

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1428 đến 1883

Thứ năm - 07/07/2011 21:44
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1428-1527 thời Triều Lê Sơ đến giai đoạn 1847-1883 thời kỳ Dục Tông (Hồng Nhậm)

XVIII. TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527) 99 NĂM,

QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT - KINH ĐÔ ĐÔNG ĐÔ (HÀ NỘI)

1. Lê Thái Tổ (Lê Lợi) (1428-1433):

            Niên hiệu: Thuận Thiên (1428-1433)

            Lê Lợi, sinh ngày 06 tháng 8 năm Ất Sửu (tức 10-9-1385) là con trai thứ ba của ông Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Thương, người ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá. Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông, bậc thức giả biết ngay là một người phi thường.

            Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn.

            Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú v.v... chính thức phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước.

           

             

             

             

            Suốt 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.

            Sau hội thề Đông Quan, ngày 29 tháng 12 năm 1427, bại binh của giặc bắt đầu được phép rút quân về nước an toàn, đến ngày 03-01-1428, bóng dáng quân Minh cuối cùng đã bị quét sạch khỏi bờ cõi.

            Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi Vua tại điện Kính Thiên, xưng là "Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương" đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) đại xá thiên hạ, ban bố "Bình Ngô đại cáo" đây chính là "Tuyên ngôn độc lập" lần thứ 2 của tổ quốc ta. Bình Ngô đại cáo mở đầu ghi:

"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến

Cõi bờ sông núi đã riêng

Phong tục Bắc Nam cũng khác..."

            Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi thảo là một thiên anh hùng ca tuyệt vời, bất hủ, nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc ta.

            Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lời bàn: "Lê Thái Tổ từ khi lên ngôi đến khi mất, thi hành chính sự, thực rất khả quan, như ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học... cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp..."

            Năm 1430 đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô (Lam Sơn) thành Tây Kinh.

            Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), hưởng thọ 49 tuổi, táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn, Thanh Hoá, trị vì được 5 năm.

3. Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) (1433-1442):

Niên hiệu:       - Thiệu Bình (1434-1439)

                       - Đại Bảo (1440-1442)

Lê Thái Tông tên huý là Nguyên Long, sinh ngày 21 tháng 11 năm Quý Mão (1423), là con thứ hai của Lê Lợi và bà Phạm Thị Ngọc Trần, lên ngôi vua ngày 08 tháng 9 năm Qúy Sửu (1433), lấy niên hiệu là Thiệu Bình.

Đại Việt sử ký toàn thưghi: "Vua thiên tư sáng suốt nối vận thái bình: bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp Di địch. Trọng đạo sùng Nho, mở khoa thi chọn hiền sĩ, xử tù, xét án phần nhiều tha thứ khoan hồng. Cũng là bậc vua tài giỏi nối giữ cơ đồ song đam mê tửu sắc, đến nỗi thình lình băng ở bên ngoài cũng là tự mình chuốc lấy hoạ..."

Lê Thái Tông lên ngôi vua mới 11 tuổi, còn quá trẻ lại phải đối phó với tình hình triều đình khá phức tạp. Mâu thuẫn và chia rẽ giữa hai lực lượng, một bên là các công thần khai quốc, đứng đầu là Đại tư đồ Lê Sát, Lê Ngân; với một bên là những quan lại khoa bảng. Mặc dù vậy, Thái Tông vẫn đủ bản lĩnh để không cho các đại thần hoàn toàn thao túng.

            Triều Lê Thái Tông cho phục hồi thi hương, thi hội như triều Trần. Năm 1438, mở thi hương, năm 1439 mở thi hội. Từ đó cứ 3 năm mở một khoa thi. Thi hương cũng phải qua 4 trường, bài thi như triều Trần. Ai trúng tuyển thi hội đều gọi là “Tiến sĩ xuất thân”.

Năm Nhâm Tuất (1442), mở khoa thi Đình cho những người thi Hội đã trúng 4 trường, làm một bài thi do vua ra đề. Đỗ thi Đình gọi là Tiến sĩ chia làm 3 bậc:

- Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ gồm 3 người đỗ đầu: (Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa) gọi là tam khôi.

- Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân gọi là Hoàng giáp.

- Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân gọi là Tiến sĩ.

Những người đậu đều được ghi danh vào bia đá, gọi là bia Tiến sĩ đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Các Tiến sĩ được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu khởi đầu từ đấy.

Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi mời vua ngự chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 04 tháng 8, Vua về đến Lệ Chi Viên (vườn vải) huyện Gia Bình (nay thuộc Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, được vua yêu quý luôn được theo hầu bên cạnh Vua, đêm đó Thái Tông bị bạo bệnh chết đột ngội ở đó, lúc này Thái Tông mới 20 tuổi. Bọn gian thần trong triều đã vu cho Nguyễn Thị Lộ ám hại Vua, chúng kết án “tru di tam tộc” Nguyễn Trãi.

Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), Nguyễn Trãi và ba họ bị hành hình, chỉ có một người thoát chết là bà Phạm Thị Mẫn, một người thiếp khác của Nguyễn Trãi đang mang thai, được học trò của ông đưa trốn sang Lào, mới thoát chết, đẻ ra Nguyễn Anh Vũ. Sau này, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi. Nguyễn Anh Vũ được vua Lê Thánh Tông trọng dụng. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương chính là "hậu duệ" (dòng họ ở Tiên Du, Bắc Ninh) của Nguyễn Trãi.

Vua Lê Thánh Tông mất mới 20 tuổi, nhưng đã có bốn con trai do bốn bà vợ sinh ra: Bà Chiêu Nghi Dương Thị Bí sinh ra Nghi Dân; bà Thần phi Nguyễn Thị Anh sinh ra Hoàng tử Bang Cơ; bà Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Giao sinh ra Hoàng tử Tư Thành (sau là vua Lê Thánh Tông) và một bà vợ khác sinh ra Cung Vương Khắc Xương.

3. Lê Nhân Tông (Bang Cơ) (1442-1459):

Niên hiệu:       - Thái Hoà (1443-1453)

                       - Diên Ninh (1454-1459)

Lê Nhân Tông tên huý là Bang Cơ, con thứ của Lê Thái Tông, sinh ngày 09 tháng 6 năm Tân Dậu (1441). Ngày 16 tháng 11 năm Tân Dậu (1441), được lập là Hoàng Thái tử, ngày 12 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) lên ngôi vua đổi niên hiệu là Thái Hoà. Lúc đó Lê Nhân Tông mới 2 tuổi, Thái hậu Tuyên Từ phải buông rèm nhiếp chính.

Tháng 11 năm Quý Dậu (1453), Vua 12 tuổi, Thái hậu trả quyền chính cho vua rồi lui về ở cung riêng. Vua đổi niên hiệu là Diên Ninh, đại xá cho thiên hạ. Người đời bấy giờ ca ngợi tài năng và đức độ của vua.

Đại Việt sử ký toàn thưghi: "Vua tuổi còn thơ ấu đã có thiên tư sáng suốt, vẻ người tuấn tú, đàng hoàng, dáng điệu nghiêm trang, sùng đạo Nho, nghe can gián, thương người làm ruộng, yêu muôn dân, thực là bậc vua giỏi, biết giữ cơ đồ, không may bị cướp ngôi, giết hại. Thương thay!".

Trước kia, Dương Thị Bí là mẹ Nghi Dân có tội với Lê Thái Tông, nên Nghi Dân không được lập làm thái tử, mới ngầm chứa mưu gian nhòm ngó ngôi báu, cùng bọn đồng đảng là Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng cầm đầu bọn vô lại côn đồ, đêm ngày 03 tháng 10 năm Kỷ Mão (1459) bắc thang chia làm ba đường, trèo thành cửa Đông, lẻn vào cung cấm giết chết vua Lê Nhân Tông và Tuyên Từ Hoàng thái hậu.

Lê Nhân Tông bị giết chết lúc mới 19 tuổi, làm vua được 17 năm. Nghi Dân tự lập làm vua, nhưng chỉ 8 tháng sau lại bị các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết bọn phản nghịch, giáng Nghi Dân xuống tước hầu, rồi lập Hoàng tử Tư Thành lên làm vua, đó là Lê Thánh Tông.

3. Lê Thánh Tông (Tư Thành) (1460-1497):

Niên hiệu:    - Quang Thuận (1460-1469)

                    - Hồng Đức (1470-1797)

Lê Thánh Tông tự là Tư Thành có tên huý là Hạo, con trai út của Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Giao (con gái Thái Bảo Ngô Từ). Lê Tư Thành được sinh ra tại chùa Huy Văn (phía trong ngõ Văn Chương, Hàng Bột, Hà Nội). Sống giữa chốn dân gian từ nhỏ đến năm lên 4 tuổi, mẹ Nhân Tông buông rèm nghe chính sự, mới đón Tư Thành về phong làm Bình Nguyên Vương, cho ở trong cung để hàng ngày cùng vua Nhân Tông và các vương hầu khác học tập tại toà Kính Diên. Tư Thành chăm chỉ học tập, dáng dấp đoan chính, thông tuệ hơn người, được vua Nhân Tông rất yêu quý.

Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), ngày 06 tháng 6 năm Canh Thìn (1460), các quan đại thần phế truất Nghi Dân, rước Tư Thành lên ngôi vua, đặt niên hiệu Quang Thuận.

Lê Thánh Tông hết lòng chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn hiền tài ra giúp nước.

Khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề, mở rộng giao lưu buôn bán, ban hành chế độ quân điền.

Coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia, bản đồ biên giới quốc gia Đại Việt được hoàn thành dưới triều Lê Thánh Tông.

Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng mang niên hiệu vua Lê Thánh Tông còn lại cho đến nay là một trong những bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời phong kiến nước ta.

Bộ Đại việt sử ký toàn thư do Sử quan Ngô Sĩ Liên biên soạn năm Kỷ Hợi (1479) dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông.

Lê Thánh Tông còn lập ra hội Tao Đàn gồm 28 ông tiến sĩ giỏi văn thơ nhất nước thời đó gọi là: "Tao Đàn nhị thập bát tú" do Lê Thánh Tông làm nguyên suý.

Năm Canh Thìn (1470) là năm Hồng Đức nguyên niên, vua Chiêm Thành là Trà Toàn là một tên vua hung bạo, dối thần ngược dân, muốn sinh sự với nước ta.

Một mặt Trà Toàn cho người sang cầu viện nhà Minh, một mặt đem quân sang đánh phá đất Hoá Châu.

Vua Lê Thánh Tông cho sứ sang nhà Minh kể chuyện Trà Toàn làm nhiễu, rồi Ngài thân trinh cử 20 vạn quân sang đánh chiếm Chiêm Thành. Khi đến Thuận Hoá, Ngài cho đóng quân lại để luyện tập và sai người lẻn sang vẽ địa đồ nước Chiêm Thành để biết rõ chỗ hiểm yếu rồi mới tiến binh lên đánh lấy cửa Thị Nại (Bình Định).

Trà Toàn thua trận, chạy về giữ kinh thành Đồ Bàn. Quân ta kéo đến vây đánh, phá được thành, bắt được trà toàn.

Bấy giờ có tướng Chiêm Thành là Bô Trì Trì chạy đến đất Phan Lung, sai sứ vào cống và xưng thần. Vua Lê Thánh Tông mới chia đất đó làm ba nước: Chiêm Thành, Hoà Anh và Nam Phan.

Còn đất Đồ Bàn, đất Đại Chiêm và đất Cổ Luỹ thì vua Lê Thánh Tông lấy để lập thêm đạo Quảng Nam có 3 phủ, 9 huyện, rồi đặt quan cai trị, và chọn dân đinh từ 15 tuổi trở lên, ai là người thông minh, ham học thì cho làm sinh đồ, để dạy cho sự học hành về lễ nghĩa…

Ngày 30 tháng 01 năm Đinh Tỵ (1497), Lê Thánh Tông mất, ở ngôi 38 năm, thọ 56 tuổi, táng ở Chiêu Lăng.

            Xem những công việc của vua Lê Thánh Tông trong 38 năm trị vì thì Ngài thật là đấng anh quân. Những sự văn trị và võ công ở nước ta không có đời nào thịnh hơn đời Hồng Đức. Nhờ có vua Lê Thái Tổ thì giang sơn nước Đại Việt mới còn và nhờ có vua Lê Thánh Tông thì nền văn hoá nước ta mới thịnh, cho nên nhân dân ta không bao giờ quên công đức hai vị vua đó.

5. Lê Hiến Tông (Lê Tăng) (1498-1504):

Niên hiệu: Cảnh Thống (1498-1504)

Lê Hiến Tông có tên huý là Huy, con trưởng của Lê Thánh Tông và mẹ là Trường Lạc Thánh Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng, con gái thứ hai của Trình Quốc Công Đức Trung (quê ở Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hoá).

Lê Hiến Tông sinh ngày 10 tháng 8 năm Tân Tỵ (1461). Tháng 02 năm Đinh Tỵ (1497) len ngôi vua, đặt niên hiệu là Cảnh Thống.

Lê Hiến Tông là một ông vua thông minh hoà hậu, thường khi bãi triều rồi, vua ra ngồi nói chuyện với các quan lời lẽ ôn hoà, sắc mặt vui tươi. Cách cai trị nhàn hạ ung dung mà thiên hạ răm rắp tuân theo lệnh.

Vua chú trọng đặc biệt đến thuỷ lợi, chăm sóc bảo vệ đê điều, bắt đào sông khơi ngòi, đắp đường làm xe nước, để tiện việc sản xuất nông nghiệp. Việc văn học cũng vậy, không bao giờ trễ nải.

Ngày 24 tháng 5 năm Giáp Tý (1504), Hiến Tông mất, thọ 44 tuổi, ở ngôi 7 năm.

6. Lê Túc Tông (06/6/1504-07/12/1504):

Niên hiệu: Thái Trinh (1504)

Lê Túc Tông tên huý là Lê Thuần, là con trai thứ 3 của Lê Hiến Tông, mẹ là Trang Thuận Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hoàn, quê ở Bình Lăng, Thiên Thi, nay là Ân Thi, Hưng Yên. Túc Tông sinh ngày 03 tháng 8 năm Mậu Thân (1488).

 Lê Túc Tông ham học hỏi, thân người hiền, vui điều thiện, đúng là một vị vua giỏi giữ nghiệp thái bình.

Lê Túc Tông lên ngôi vua ngày 06 tháng 6 năm 1504, đặt niên hiệu là Thái Trinh.

Tháng 11 năm 1504, mắc bệnh nặng, biết không qua khỏi mới mời các quan triều thần đến để chỉ định người anh thứ hai là Lê Tuấn lên ngôi vua. Ngày 7-12-1504, vua Túc Tông mất, ở ngôi được 6 tháng, thọ 17 tuổi.

7. Lê Uy Mục (Lê Tuấn) (1505-1509):

Niên hiệu: Đoan Khánh (1505-1509)

Lê Uy Mục tên huý là Tuấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1488, mẹ là Chiêu Nhân Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn (Bắc Ninh), lên ngôi vua ngày 22 tháng 01 năm 1505, đặt niên hiệu là Đoan Khánh.

Lê Uy Mục từ khi lên ngôi vua, ham rượu chè, gái đẹp, thích giết người, tin dùng người họ mẹ.

Sự tàn bạo quá đáng của Lê Uy Mục đã gây bất bình trong dân chúng và triều thần, đương thời gọi là “Vua quỷ”.

Tháng 11 năm 1509, Giản Tu Công Oanh tự xưng là Cẩm Giang Vương ở Tây Đô (Thanh Hoá) đưa quân về chiếm Đông Kinh (Hà Nội) bắt được và bức Lê Uy Mục tự tử tháng 12-1509.

Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 22 tuổi.

8. Lê Tương Dực (Lê Oanh) (1509-1516):

Niên hiệu: Hồng Thuận (1510-1516)

Lê Tương Dực tên huý là Oanh, là cháu nội của vua Lê Thánh Tông, con thứ hai của Kiến Vương Lê Tân và bà Huy Từ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Tuyên, người làng Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (tức Thọ Xuân, Thanh Hoá), sinh ngày 25 tháng 6 năm Quý Sửu (1493).

Sau khi giết Lê Uy Mục, Oanh tự lập làm vua tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1509), đặt niên hiệu là Hồng Thuận.

Bản thân Lê Tương Dực cũng lao vào con đường ăn chơi truỵ lạc. Tháng 5-1514, nghe sàm tấu của Hiệu uý Hữu Vĩnh giết chết 15 Vương Công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm, người đương thời gọi là “Vua lợn”.

Lê Tương Dực tính hay chơi bời và xa xỉ, như sai Vũ Như Tô làm cái điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài, bắt quân dân làm trong mấy năm trời không xong, mà thật là tổn hại tiền của, chết hại nhiều người.

Trịnh Duy Sản nhiều lần can ngăn, Vua không nghe, còn đem Sản ra đánh bằng trượng.

Tháng 4-1516, Trịnh Duy Sản sai đâm chết Tương Dực. Tương Dực ở ngôi được 7 năm, thọ 17 tuổi.

9. Lê Chiêu Tông (Lê Ý) (1516-1522):

Niên hiệu: Quang Thiệu (1516-1522)

Lê Chiêu Tông tên huý là Ý, có tên nữa là Huệ, cháu bốn đời của Lê Thánh Tông, con trưởng của Cẩm Giang vương Lê Sùng và bà Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Loan, người xã Phi Bạo, huyện Thanh Chương (Nghệ An).

Lê Chiêu Tông sinh ngày 4 tháng 10 năm Bính Dần (1506).

Sau khi giết Tương Dực, Trịnh Duy Sản và Lê Nghĩa Chiêu đón Lê Ý (mới 11 tuổi) về tôn làm vua, đặt niên hiệu là Quang Thiệu.

Dưới triều Lê Chiêu Tông, giặc giã nổi lên như ong, dân chúng khổ sở về cảnh loạn lạc, đầu rơi máu chảy.

Mạc Đăng Dung là một trong những người phò lập vua, bằng tài năng quân sự nổi bật đã khôn khéo thâu tóm quyền hành. Quyền uy của Mạc Đăng Dung ngày một lớn. Mạc Đăng Dung cho con gái nuôi vào hầu Vua thực ra là để dò xét coi giữ, Mạc Đăng Doanh là con lớn của Mạc Đăng Dung làm chức Dục Mỹ hầu trông coi điện Kim Quang. Bố con Mạc Đăng Dung ngày càng có mưu đồ thoán đoạt.

Trước tình hình đó, Lê Chiêu Tông mưu ngầm với Trịnh Tuy tìm cách triệt hạ thế lực của họ Mạc. Mưu bị bại lộ, vua phải bỏ Đông Đô chạy ra ngoài vào ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1522).

Mạc Đăng Dung đã cùng triều thần lập Lê Xuân, em của Lê Chiêu Tông lên làm vua vào ngày 01 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522). Lê Chiêu Tông bị giáng xuống làm Đà Dương Vương rồi bị Mạc Đăng Dung bắt và giết chết vào ngày 18 tháng 12 năm Bính Tuất (1526) thọ 21 tuổi, làm vua được 6 năm.

10. Lê Cung Hoàng (Lê Xuân) (1522-1527):

Niên hiệu: Thống nguyên (1522-1527)

Lê Cung Hoàng tên húy là Xuân được Mạc Đăng Dung lập lên làm vua khi 15 tuổi.

Lê Cung Hoàng sinh ngày 26 tháng 7 năm Đinh Mão (1507). Ngày 01 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522) được Mạc Đăng Dung lập làm vua, đặt niên hiệu là Thống Nguyên.

Năm 1524, Mạc Đăng Dung tự mình thăng tước Bình Chương quân quốc trọng sự Thái phó Nhân quốc công. Tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung tự làm Đô tướng dẫn tất cả thuỷ, lục quân vào đánh Thanh Hoá, bắt được vua Lê Chiêu Tông đem về kinh sư giam cầm và đến tháng 12-1526 thì đem giết chết.

Sau khi giết chết Lê Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung rút quân về đóng ở Cổ Trai, nhưng vẫn chế ngự triều đình. Tháng 4-1527, Cung Hoàng sai Trung sứ Đỗ Hiếu Đế đến làng Cổ Trai tấn phong cho Đăng Dung làm An Hưng Vương.

Mặc dù được Vua ân sủng hậu đãi và giao phó trọng trách, nhưng Mạc Đăng Dung vẫn kiên quyết chớp thời cơ giành ngôi hoàng đế về cho họ Mạc.

Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung đem quân từ Cổ Trai vào kinh đô Thăng Long ép Vua phải nhường ngôi, bắt Vua và Hoàng Thái hậu giam ở Tây cung, vài tháng sau bắt Vua và Thái hậu tự tử. Như vậy Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Kể từ Lê Thái Tổ lên ngôi năm 1428 đến Lê Cung Hoàng bị giết vào năm 1527, trải qua 10 đời Vua, cả thảy 99 năm, Các nhà sử học gọi là triều Lê Sơ.

Vận nhà Lê bị suy vi, nhưng công đức của Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông làm cho lòng người không quên nhà Lê, cho nên dẫu nhà Mạc có cướp ngôi cũng không được lâu bền, và về sau họ Trịnh tuy có chuyên quyền nhưng cũng chỉ giữ ngôi chúa chứ không giám cướp ngôi vua.

 

XIX. NHÀ MẠC (1527-1592) 65 NĂM,

KINH ĐÔ ĐÔNG ĐÔ (HÀ NỘI)

1- Mạc Đăng Dung (1527-1529):

Niên hiệu: Minh Đức (1527-1529)

            Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (Hải Dương) nay thuộc Đồ Sơn, Hải Phòng, là cháu bảy đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi làm quan đến chức Nhập nội hành khiển (Tể tướng) thời Trần, bố là Mạc Hịch, mẹ là Đặng Thị Hiến, sinh ra 3 người con trai là: Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Đốc và Mạc Đăng Quyết.

            Mạc Đăng Dung sinh ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão (1483). Thời trẻ, Mạc Đăng Dung có sức khoẻ phi thường, tướng mạo khôi ngô. Mạc Đăng Dung từ một thanh niên nghèo, làm nghề đánh cá, đi thi võ ở kinh đô, trúng Đô lực sĩ được sung vào chân túc vệ chuyên cầm dù đi theo xe vua.

            Mạc Đăng Dung tiến rất nhanh trên con đường hoan lộ, năm 1511 mới 29 tuổi đã được phong tước Vũ Xuyên bá. Năm 1516, Mạc Đăng Dung được cử làm Trấn thủ Sơn Nam với chức Phó tướng Tả đô đốc.

            Trải qua 3 đời vua Lê, Mạc Đăng Dung được phong làm Thái sư Nhân quốc công rồi đến An Hưng vương.

            Lợi dụng lúc vua Lê Cung Hoàng ươn hèn, tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai đem quân về kinh đô ép vua nhường ngôi, tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Minh Đức.

            Về đối ngoại, Mạc Đăng Dung sai sứ đem biểu sang dâng nhà Minh nói rằng con cháu nhà Lê không còn ai thừa tự, cho nên di chúc cho đại thần họ Mạc tạm quản việc nước để yên dân.

            Nhà Minh sai người sang dò xét hư thực, Mạc Đăng Dung cùng các bầy tôi khác dùng vàng bạc đút lót những viên tướng biên thùy nhà Minh để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Vì thế năm Kỷ Sửu (1529) anh em Trịnh Nguyên và Trịnh Ngang là cựu thần nhà Lê chạy sang cầu viện nhà Minh song không thành, hai viên quan đó đều chết già trên đất nhà Minh.

            Bắt chước nhà Trần, tháng 12 năm 1529, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh làm vua, còn mình làm Thái Thượng hoàng. Lúc đó Mạc Đăng Dung mới 46 tuổi. Mạc Đăng Dung mất tháng 8 năm Tân Sửu (1541), thọ 59 tuổi.

2- Mạc Đăng Doanh (1530-1540):

Niên hiệu: Đại Chính (1530-1540)

            Mạc Đăng Doanh là con trưởng của Mạc Đăng Dung, ngày 01 tháng Giêng năm Canh Dần (1530) lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đại Chính, tôn Đăng Dung làm Thái Thượng hoàng.

            Mạc Đăng Doanh làm cung điện nguy nga ở Cổ Trai để Thái Thượng hoàng sống ở đó vui thú điền viên, nhưng ngụ ý là trấn giữ một vùng quan trọng làm ngoại viện cho Mạc Đăng Doanh và vẫn định đoạt những việc trọng đại của quốc gia.

            Từ khi Mạc Đăng Doanh lên ngôi vua thì ở Thanh Hoá, cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim dựa vào rừng núi ở biên giới Việt - Lào lãnh đạo lực lượng trung hưng nhà Lê ngày càng lớn mạnh. Năm Quý Tỵ (1533), các cựu thần nhà Lê lập Lê Duy Ninh lên làm vua gọi là Lê Trang Tông.

            Dưới triều Mạc, cứ 3 năm mở một kỳ thi Hội, thi Đình để tuyển chọn nhân tài. Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ trạng Nguyên dưới triều Mạc Đăng Doanh.

            Ngày 15 tháng Giêng năm Canh Tý (1540), Mạc Đăng Doanh chết, ở ngôi được 10 năm.

3- Mạc Phúc Hải (1541-1546):

Niên hiệu: Quảng Hòa (1541-1546)

            Mạc Phúc Hải là con trưởng của Mạc Đăng Doanh, được ông nội là Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập làm vua vào năm Tân Sửu (1541).

            Thời Mạc Phúc Hải đã tiến hành chia cấp lộc điền, đặc biệt ưu tiên binh sĩ, vì lực lượng quân sĩ to lớn được nuôi dưỡng để chống lại nhà Lê Trung Hưng (Nam Triều).

            Ngày 08 tháng 5 năm Bính Ngọ (1546), Mạc Phúc Hải chết, ở ngôi được 5 năm. Con trưởng là Mạc Phúc Nguyên kế vị.

4- Mạc Phúc Nguyên (1546-1564):

Niên hiệu:      - Vĩnh Định (1547)

                      - Cảnh Lịch (1548-1553)

                      - Quang Bảo (1554-1564)

            Mạc Phúc Nguyên lên ngôi vua vào tháng 5 năm Bính Ngọ (1546), lúc đó còn nhỏ tuổi, mọi công việc triều chính đều do chú ruột là Khiêm Vương Mạc Kính Điển quyết đoán cả.

            Tháng 7-1557, Mạc Phúc Nguyên sai Mạc Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hoá, Quân Mạc thua to, Mạc Kính Điển phải nhảy xuống sông ẩn nấp suốt 3 ngày mới thoát chết.

            Đến năm Kỷ Mùi (1559), quân Lê - Trịnh mở cuộc tấn công vào hậu phương của nhà Mạc như Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Kinh Bắc, Hải Dương... Mạc Phúc Nguyên phải rút vào phòng thủ bên ngoài thành Đông Đô.

            Tháng 12 năm Giáp Tý 1564, giữa lúc cuộc chiến Lê - Mạc đang gay go quyết liệt nhất thì Mạc Phúc Nguyên chết vì bệnh đậu mùa. Mạc Phúc Nguyên làm vua được 18 năm.

5- Mạc Mậu Hợp (1564-1592):

Niên hiệu:        -Thuần Phúc (1565-1567)

                                    - Sùng Khang (1568-1577)

                                    - Diên Thành (1578-1585)

                                    - Đoan Thái (1585-1587)

                                    - Hưng Trị (1588-1590)

                                    - Hồng Ninh (1591-1592)

            Mạc Mậu Hợp là con cả của Mạc Phúc Nguyên, năm Giáp Tý (1564) lên ngôi vua hãy còn bé. Ứng vương Mạc Đôn Nhượng (con út Mạc Đăng Dung) làm Nhập nội phụ chính ẵm Mạc Mậu Hợp ra coi chầu, tôn ông chú là Khiêm Vương Mạc Kính Điển làm Khiêm Đại Vương cùng trông coi việc triều chính.

            Ngày 21 tháng 02 năm Mậu Dần (1578), Mạc Mậu Hợp bị sét đánh ở trong cung, bị bại liệt nửa người, sau chữa thuốc lại khỏi, bèn đổi niên hiệu là Diên Khánh.

            Tháng 10 năm Canh Thìn (1580), Phụ chính Mạc Kính Điển, trụ cột của triều Mạc chết, Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng giữ quyền phụ chính quyết định mọi việc nhưng lại thường về sống ở Dương Kinh, vì vậy việc triều chính bê bối không ai quyết đoán.

            Năm 1581, Mạc Mậu Hợp bị chứng thong manh, chữa mãi mới khỏi. Khỏi bệnh, Mạc Mậu Hợp lao vào ăn chơi truỵ lạc, chính sự nhà Mạc ngày càng đổ nát, binh lực suy yếu, lòng người ly tán.

            Ngày 25 tháng 11 năm 1592, thủy quân Lê - Trịnh gồm 300 chiến thuyền đánh vào các huyện Kim Thành, Thanh Hà, Nam Sách, Kinh Môn (tỉnh Hải Dương ngày nay). Quân Mạc tan vỡ, dư Đảng nhà Mạc xin hàng Trịnh Tùng rất đông.

            Mạc Mậu Hợp chạy trốn, bị bắt giải về kinh đô Đông Đô, bị treo sống 3 ngày xong bị chém đầu ở bãi cát Bồ Đề.

            Mạc Mậu Hợp ở ngôi vua được 30 năm, khi chết 31 tuổi.

            Con trai Mạc Mậu Hợp là Mạc Toàn chạy trốn, sau bị quân Trịnh bắt được đem chém đầu tại bến Thảo Tân.

            Như vậy họ Mạc từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp truyền ngôi được 5 đời thì mất, tổng cộng được 65 năm.

            Con cháu nhà Mạc theo lời dạy của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm rút lên Cao Bằng, còn kéo dài được đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:

            6. Mạc Toàn (1592-1592)

            7. Mạc Kính Chỉ (1592-1593)

            8. Mạc Kính Cung (1593-1625)

            9. Mạc Kính Khoan (1625-1638)

            10. Mạc Kính Vũ (1638 - 1677)

            Như vậy nhà Mạc tồn tại đúng 150 năm.

 

XX. NHÀ LÊ TRUNG HƯNG (1533-1788): 255 NĂM

1. Lê Trang Tông (1533-1548):

Niên hiệu: Nguyên Hòa (1533-1548)

            Lê Trang Tông tên huý là Duy Ninh, là con của vua Lê Chiêu Tông, mẹ là Phạm Thị Ngọc Quỳnh, cháu năm đời của Lê Thánh Tông.

            Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Duy Ninh mới 11 tuổi, được Lê Quán cõng chạy sang Ai Lao đổi tên là Huyến. Đến tháng Giêng năm Quý Tỵ (1533) được Chiêu Huấn Công Nguyễn Kim đón Duy Ninh về lập lên làm vua.

            Duy Ninh lên làm vua đặt niên hiệu là Nguyên Hoà, tôn Nguyễn Kim làm Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công, lấy Sầm Hà làm nơi hành tại, giao kết với vua Ai Lao là Xạ Đẩu để nhờ quân lương, mưu việc lấy lại nước.

            Tháng 12 năm 1540, Nguyễn Kim kéo quân từ Ai Lao về đánh Nghệ An, hào kiệt các nơi theo về giúp Lê Trung Hưng rất đông. Cuối năm 1543, Lê Trung Hưng chiếm được Tây Đô (Thanh Hoá). Nước ta từ đó hình thành "Nam - Bắc triều". Từ Thanh Hoá, Nghệ An trở vào do Lê Trung Hưng cai quản (Nam triều). Cả vùng Bắc Bộ trong đó có Kinh đô Đông Đô thuộc nhà Mạc cai quản (Bắc triều). Hai bên Lê - Mạc nội chiến tàn khốc kéo dài gần 50 năm (1543-1592).

            Năm 1545, Nguyễn Kim tiến quân đánh Sơn Nam, đến Yên Mô (Ninh Bình), thì bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc giết chết.

            Trịnh Kiểm là con rể Nguyễn Kim, nắm giữ binh quyền, mở đầu thời kỳ "vua Lê, chúa Trịnh" sau này.

            Năm 1546, Trịnh Kiểm lập hành doanh vua Lê ở Vạn Lại (Thanh Hoá). Lấy danh nghĩa "phù Lê, diệt Mạc", nhiều hào kiệt, danh sĩ đương thời tìm vào Thanh Hoá phò Lê Trung Hưng như Lương Đắc Bằng, Phùng Khắc Khoan...

            Năm 1548, Lê Trang Tông mất, thọ 34 tuổi, ở ngôi được 15 năm. Trịnh Kiểm lập Thái tử Duy Huyên lên nối ngôi là Lê Trung Tông.

2. Lê Trung Tông (1548-1556):

Niên hiệu: Thuận Bình (1548-1556)

            Lê Trung Tông tên huý là Huyên, là con của Lê Trang Tông, tính tình khoan dung, thông tuệ, có tài lược đế vương, Trung Tông  sinh năm Giáp Ngọ (1534).

            Năm Mậu Thân (1548), được lập làm vua khi mới 15 tuổi, lấy hiệu là Trung Tông, phong cho Trịnh Kiểm là Lượng Quốc công quyết định mọi việc triều chính.

            Năm 1554, nhà Lê mở khoa thi để chọn nhân tài, lấy đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp 5 người, đệ nhị giáp 8 người như Đinh Bạt Tuỵ, Chu Quang Trứ,... một số tướng tài giỏi như Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận... bỏ nhà Mạc vào Tây Đô phò giúp nhà Lê Trung Hưng.

            Tháng Giêng năm 1556, Lê Trung Tông mất mới 22 tuổi, không có con, ở ngôi được 8 năm.

            Trịnh Kiểm bàn với các đại thần rằng: "Nước không thể một ngày không vua", liền sai người đi tìm con cháu nhà Lê, tìm được Lê Duy Bang là cháu sáu đời của Lam Quốc Công Lê Trừ (anh thứ hai của Lê Lợi) đang ở hương Bố Vệ, huyện Đông Sơn (Thanh Hoá), đón về lập làm vua.

3. Lê Anh Tông (1556-1573):

Niên hiệu:- Thiên Hựu (1556-1557)

                  - Chính Trị (1558-1571)

                  - Hồng Phúc (1572-1573)

            Lê Anh Tông tên huý là Duy Bang, dòng dõi nhà Lê, trước đó anh thứ hai của Lê Lợi là Lê Trừ được phong là Lam Quốc Công, Trừ sinh ra Khang, Khang sinh ra Thọ, Thọ sinh ra Duy Thiệu, Thiệu sinh ra Duy Khoáng, Duy Khoáng lấy vợ ở hương Bố Vệ sinh ra Duy Bang. Khi Lê Trung Tông mất không có con nối, Thái sư Trịnh Kiểm và các đại thần tìm được Duy Bang đón về lập làm vua khi đó đã 25 tuổi.

            Mọi việc trong triều đều do Trịnh Kiểm quyết định, Vua chỉ việc nghe theo.

            Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Hoàng, con thứ 2 của Nguyễn Kim, nhờ chị gái là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm), xin anh rể vào trấn thủ xứ Thuận - Quảng, được Trịnh Kiểm đồng ý cho đi.

            Tháng 02 năm 1570, Trịnh Kiểm ốm nặng rồi mất. Anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng tranh giành nhau quyền bính, đánh lẫn nhau. Vua Lê Anh Tông đã trực tiếp điều hành triều chính và đứng ra dàn xếp các mâu thuẫn này, sau Trịnh Cối đem cả vợ con ra hàng nhà Mạc.

            Lê Anh Tông phong cho Trịnh Tùng tước Trưởng quận công nắm giữ binh quyền để đánh nhà Mạc.

            Tháng 3-1572, Lê Cập Đệ, cận thần nhà Lê, mưu giết Tả tướng Trịnh Tùng, việc không thành, Lê Cập Đệ bị Trịnh Tùng giết. Một số cận thần khác như Cảnh Hấp và Đình Ngạn nói với Vua rằng: "Tả tướng cầm quân, quyền thế rất lớn, bệ hạ khó lòng tồn tại với ông ta được", Vua nghi hoặc, đương đêm đem theo bốn hoàng tử cùng chạy đến thành Nghệ An và ở lại đó. Tả tướng Trịnh Tùng cùng với triều thần lập con thứ 5 của Lê Anh Tông là Duy Đàm lên ngôi vua, và sai Nguyễn Hữu Liên đi đón vua Lê Anh Tông, khi về đến Lôi Dương (Thanh Hoá), ngầm bức hại vua rồi phao tin là vua tự thắt cổ chết vào ngày 22 tháng 01 năm Quý Dậu (1573).

            Như vậy, Lê Anh Tông ở ngôi 16 năm, thọ 42 tuổi.

4. Lê Thế Tông (1573-1599):

Niên hiệu:            - Gia Thái (1573-1577)

                            - Quang Hưng (1578-1599)

            Lê Thế Tông tên huý là Duy Đàm, sinh tháng 11 năm Đinh Mão (1567). Tháng 01 năm Quý Dậu (1573) được lập làm vua, mới 7 tuổi, quyền hành tất cả ở trong tay Tả tướng Trịnh Tùng.

            Sau gần 50 năm nội chiến Nam - Bắc triều với gần 40 trận đánh lớn nhỏ, hàng vạn dân lành bị bắt vào lính, phục vụ cho các cuộc tàn sát khủng khiếp. Có trận mỗi bên huy động hàng chục vạn quân, hai bên giằng co khá quyết liệt. Mãi đến năm 1591, Trịnh Tùng huy động tổng lực đánh trận quyết định ở Đông Kinh, tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592) bắt được Mạc Mậu Hợp, chiếm được kinh thành. Tháng 02 năm Quý Tỵ (1593), Trịnh Tùng đón Lê Thế Tông về kinh đô Đông Đô.

            Công cuộc Lê Trung Hưng đã hoàn thành. Trịnh Tùng tự xưng là Đô Nguyên suý Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương toàn quyền quyết định. Vua chỉ ngồi chắp tay làm vì, bắt đầu thời kỳ "vua Lê - chúa Trịnh".

            Ngày 24 tháng Tám năm Kỷ Hợi (1599), Lê Thế Tông mất, ở ngôi được 26 năm, thọ 33 tuổi.

5. Lê Kính Tông (1599-1619):

Niên hiệu:   - Thuận Đức (1600)

                   - Hoằng Định (1601-1619)

            Lê Kính Tông tên huý là Duy Tân, con thứ của Lê Thế Tông, ngày 27 tháng Tám năm Kỷ Hợi (1599) được Trịnh Tùng lập làm vua, khi đó mới 11 tuổi.

            Từ đầu thế kỷ 17, sau khi đánh tan nhà Mạc, giành lại được kinh đô Đông Đô (dư đảng nhà Mạc phải rút lên Cao Bằng), quyền lực của Trịnh Tùng ngày càng lớn, triều đình chỉ biết phục vụ nhà Chúa.

            Trước tình hình đó, vua Lê Kính Tông cùng với Trịnh Xuân (con thứ của Trịnh Tùng) mưu giết Trịnh Tùng bị bại lộ, Trịnh Xuân bị bắt giam, còn Kính Tông bị bức thắt cổ chết vào ngày 12 tháng Năm năm Kỷ Mùi (1619).

            Lê Kính Tông ở ngôi được 19 năm, thọ 32 tuổi.

6. Lê Thần Tông (1619-1662) (2 lần):

Niên hiệu:     * Lần 1(1619-1643)

                                 - Vĩnh Tộ (1620-1628)

                                 - Đức Long (1629-1634)

                                 - Dương Hòa (1635-1643)

                     * Lần 2 (1649-1662)

                                 - Khánh Đức (1649-1652)

                                 - Thịnh Đức (1653-1657)

                                 - Vĩnh Thọ (1658-1661)

                                 - Vạn Khánh (1662)

            Lê Thần Tông tên huý là Duy Kỳ, con trưởng của Lê Kính Tông và bà Trịnh Thị Ngọc Trinh (con thứ của Trịnh Tùng).

            Duy Kỳ sinh ngày 19 tháng 11 năm Đinh Mùi (1607), là cháu ngoại của Bình An Vương Trịnh Tùng, tháng 6 năm Kỷ Mùi (1619) được lập làm vua khi đó mới 12 tuổi.

            Vua có sống mũi cao, thông minh, học rộng, mưu lược sâu, văn chương giỏi. Song lấy Trịnh Thị Ngọc Trúc (là vợ của chú họ) để tiếng xấu về sau.

            Tháng 10 năm Quý Mùi (1643), Lê Thần Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu (tức Lê Chân Tông) để làm Thái thượng hoàng.

            Tháng 8 năm Kỷ Sửu (1649), Lê Chân Tông bị bạo bệnh mất, vì không có con nối ngôi, Trịnh Tráng lại rước Thượng hoàng Lê Thần Tông trở lại ngôi vua lần thứ 2.

            Ngày 22 tháng 9 năm Nhâm Dần (1662), Lê Thần Tông mất thọ 56 tuổi, ở ngôi 24 năm, làm Thái thượng hoàng 6 năm, lại lên ngôi 13 năm, tổng cộng làm vua 2 lần 37 năm.

7. Lê Chân Tông (1643-1649):

Niên hiệu: Phúc Thái (1643-1649)

            Lê Chân Tông tên huý là Duy Hựu, con trưởng của Lê Thần Tông sinh năm Canh Ngọ (1630). Tháng 10 năm Quý Mùi (1643), được truyền ngôi lúc 13 tuổi, ở ngôi được 6 năm, năm 1649 bị bệnh mất, mới 20 tuổi, chưa có con nối ngôi.

            Lê Thần Tông trở lại ngôi vua lần thứ 2.

            Lê Thần Tông (1649-1662) (lần 2).

8. Lê Huyền Tông (1663-1671):

Niên hiệu: Cảnh Trị (1663-1671)

            Lê Huyền Tông tên huý là Duy Vũ, con thứ hai của Lê Thần Tông, em của Lê Chân Tông, sinh năm Giáp Ngọ (1654), tháng 11 năm Nhâm Dần (1662) được lập làm vua mới 9 tuổi, ở ngôi vua được 8 năm, ngày 15 tháng 10 năm Tân Hợi (1671), Lê Huyền Tông mất mới 18 tuổi, chưa có con nối.

9. Lê Gia Tông (1672-1675):

Niên hiệu:- Dương Đức (1672-1673)

                  - Đức Nguyên (1674-1675)

            Lê Gia Tông tên huý là Duy Hội (còn tên khác là Duy Cối), con thứ của Lê Thần Tông, em của Lê Chân Tông và Lê Huyền Tông, con bà Chiêu Nghi Lê Thị Ngọc Hoàn, sinh năm Tân Sửu (1661), được lập làm vua ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671).

            Vua tướng mạo anh tú, tính tình khoan hoà, có đức độ làm vua, tiếc rằng ở ngôi được 3 năm, ngày 03 tháng 4 năm Ất Mão (1675) chết mới 15 tuổi, chưa có con nối.

10. Lê Hy Tông (1675-1705):

Niên hiệu:           - Vĩnh Trị (1676-1680)

                            - Chính Hòa (1680-1705)

            Lê Hy Tông tên huý là Duy Hợp (còn tên khác là Duy Cáp), con thứ của Lê Thần Tông, em của Lê Gia Tông, được Tây Vương Trịnh Tạc lập làm vua ngày 12 tháng 6 năm Ất Mão (1675).

            Vua sinh ngày 15 tháng 3 năm Quý Mão (1663).

            Nhà vua dựa vào chúa Trịnh để giữ cơ nghiệp có sẵn, kỷ cương được chấn hưng, được người đời ca ngợi là vua bậc nhất thời Lê Trung Hưng.

            Tháng 4 năm Ất Dậu (1705), nhường ngôi cho con trưởng là Lê Duy Đường. Vua Lê Hy Tông còn vui sống trong cảnh an nhàn 12 năm sau mới mất vào tháng 4 năm Bính Thân (1716), ở ngôi được 30 năm, thọ 54 tuổi.

11. Lê Dụ Tông (1705-1729):

Niên hiệu:           - Vĩnh Thịnh (1705-1719)

                            - Bảo Thái (1720-1729)

            Lê Dụ Tông tên huý là Duy Đường, con trưởng của Lê Hy Tông và bà Nguyễn Thị Ngọc Đệ (quê Đông Ngàn, Bắc Ninh).

            Dụ Tông sinh tháng 10 năm Canh Thân (1680), được lập làm vua vào tháng 4 năm Ất Dậu (1705) đặt niên hiệu là Vĩnh Thịnh.

            Nhà vua rũ áo, ngồi ở trên, dựa vào chúa Trịnh Cương và quần thần giúp việc đắc lực như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn v.v... Họ đưa ra chủ trương cải cách trên nhiều lĩnh vực về kinh tế - tài chính, thi cử, tổ chức hành chính... nhưng các cải cách đó chưa thu được kết quả thì chúa Trịnh Cương qua đời.

            Ngày 20 tháng 4 năm Kỷ Dậu (1729), Lê Dụ Tông nhường ngôi cho con là Duy Phường.

            Tháng Giêng năm Tân Hợi (1731), Thượng hoàng Lê Dụ Tông mất, thọ 52 tuổi, ở ngôi 24 năm.

12. Lê Duy Phường (1729-1732):

Niên hiệu: Vĩnh Khánh (1729-1732)

            Thái tử Lê Duy Phường là con thứ của Lê Dụ Tông, cháu ngoại của chúa Trịnh Cương, được vua cha nhường ngôi cho làm vua năm Kỷ Dậu (1729) đặt niên hiệu là Vĩnh Khánh, nhưng khi Trịnh Cương mất thì ngôi vua của Duy Phường không đứng vững.

            Khi Chúa Trịnh Giang lên nối ngôi Chúa, tháng 8-1732 đã giáng Duy Phường xuống làm Hôn Đức Công và buộc thắt cổ chết vào tháng 9 năm Ất Mão (1735) thọ 25 tuổi…

            Trịnh Giang lập con trưởng của Lê Dụ Tông là Duy Tường lên làm vua.

13. Lê Thuần Tông (1732-1735):

Niên hiệu: Long Đức (1732-1735)

            Lê Thuần Tông tên huý là Duy Tường, con trưởng của Lê Dụ Tông được chúa Trịnh Giang lập làm vua năm Nhâm Tý (1732), đặt niên hiệu là Long Đức. thuần Tông sinh tháng 02 năm Kỷ Mão (1699). Tháng 4 năm Ất Mão (1735) Thuần Tông mất, thọ 37 tuổi, làm vua được 3 năm.

            Lê Thuần Tông mất, chúa Trịnh Giang lập Duy Thìn là con thứ 11 của Lê Dụ Tông lên làm vua.

14. Lê Ý Tông (1735-1740):

Niên hiệu: Vĩnh Hựu (1735-1740)

            Lê Ý Tông tên huý là Duy Thìn (còn tên khác là Duy Thận), sinh tháng 02 năm Kỷ Hợi (1719).

            Ngày 27 tháng 4 năm Ất Mão (1735) được Trịnh Giang lập làm vua, đặt niên hiệu là Vĩnh Hựu.

            Chúa Trịnh Giang là kẻ vô cùng bạo ngược, sát hại công thần, giết vua nọ lập vua kia. Vì thế, tháng 12 năm 1738, các tôn thất nhà Lê như Lê Duy Mật, Duy Quý (con Dụ Tông), Duy Chúc (con Hy Tông) nổi lên chiếm cứ miền thượng du Tây Nam Thanh Hoá chống nhau với nhà Trịnh ròng rã 30 năm.

            Từ ngày giết vua, Trịnh Giang ngày càng lấn át quyền vua. Trịnh Giang tha hồ ăn chơi trác táng, vì thế mắc bệnh kinh quý, sợ sấm sét. Bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ cho đào đất làm cung thưởng trì dưới hầm cho Trịnh Giang ở. Bọn hoạn quan tha hồ lũng đoạn triều chính. Các quan đại thần kế tiếp nhau bị giết hại, thuế khoá nặng nề, lòng dân ly tán. Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổ ra khắp nơi.

            Trước tình hình nguy ngập đó, Trịnh Thái Phi (mẹ Trịnh Giang và Trịnh Doanh) cho triệu quần thần đến đưa Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang để trừ hoạn nạn.

            Năm 1740, Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang, tháng 5 năm 1740, Trịnh Doanh ép Lê Ý Tông nhường ngôi cho con trưởng của Thuần Tông là Duy Diêu, 19 năm sau Lê Ý Tông mất, thọ 40 tuổi, trị vì được 5 năm.

15. Lê Hiển Tông (1740-1786):

Niên hiệu: Cảnh Hưng (1740-1786)

            Lê Hiển Tông sinh tháng 4 năm Đinh Dậu (1717), là con trưởng của Thuần Tông và bà họ Đào (quê ở Văn Giang, Hưng Yên) gọi Duy Thìn (Lê Ý Tông) là Lê Duy Mật là chú ruột.

            Lê Hiển Tông tên huý là Duy Diêu, là ông vua trị vì lâu thứ 2 trong lịch sử phong kiến nước ta 46 năm, và thọ 70 tuổi.

            Nhờ có tài giúp đỡ của Minh Vương Trịnh Giang nên mười năm sau đất nước trở lại bình yên, dân được an cư lạc nghiệp, được ca ngợi là thời thái bình.

            Tháng Giêng năm 1764, Hiển Tông lập Duy Vĩ làm Thái tử. Năm 1767 Trịnh Giang mất, Trịnh Sâm lên thay làm nguyên soái Tĩnh Đô Vương, tháng 3 năm 1769, Trịnh Sâm truất ngôi Thái tử của Duy Vĩ rồi bắt giam vào ngục. Tháng 8 năm 1769, Trịnh Sâm giả mệnh Vua truất Thái tử làm thứ dân rồi vẫn giam ở ngục, lập Duy Cận con thứ của Lê Hiển Tông làm Thái tử.

            Tháng 12-1771, Trịnh Sâm sai giết Thái tử Duy Vĩ, đến tháng Giêng năm 1783 lập Duy Kỳ làm Hoàng Thái Tôn, truất Duy Cận làm Sùng Nhượng công.

16. Lê Mẫn Đế (Chiêu Thống) (1787-1788):

Niên hiệu: Chiêu Thống (1787-1788)

            Lê Chiêu Thống tên huý là Duy Kỳ (còn tên khác là Lê Tư Khiêm), cháu đích tôn của Lê Hiển Tông.

            Duy Kỳ được quân tam phủ đưa từ trại giam về ép vua và Chúa Trịnh Khải lập làm Hoàng Thái Tôn.

            Tháng 7 năm 1786, trước khi vua Lê Hiển Tông mất đã cho gọi Thái tôn Duy Kỳ vào trối lời truyền ngôi. Duy Kỳ vừa lạy vừa khóc xin nhận mệnh. Lúc đó, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã cưới công chúa Ngọc Hân.

            Khi Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ rút quân về Phú Xuân (Huế) thì các hào mục ở các nơi nổi dậy cát cứ. Trịnh Bồng cũng trở lại kinh đô Thăng Long tự lập làm nguyên soái Án Đô Vương và lấn át Nhà Vua như trước, khiến cho triều chính rối ren, chém giết lẫn nhau. Nguyễn Huệ lại phải kéo quân ra Bắc dẹp loạn, chiêu tập các cựu thần văn võ nhà Lê, lấy Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận đứng làm Giám quốc và giao cho Ngô Văn Sở làm Đại đô đốc ở Thăng Long, rồi Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân.

            Để khôi phục lại Lê Chiêu Thống, tháng 7-1788, Hoàng Thái hậu nhà Lê sang cầu viện nhà Mãn Thanh.

            Dựa vào thế quân Mãn Thanh, Lê Chiêu Thống trở lại kinh đô Thăng Long đã trả thù tàn bạo những người theo Tây Sơn.

            Mồng 5 Tết năm Kỷ Dậu (1789), quân đội Tây Sơn do Hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy kéo ra Bắc đã đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ở gò Đống Đa giành độc lập cho tổ quốc ta. Lê Chiêu Thống, vua bán nước, đã cùng 25 bầy tôi chạy theo tàn quân nhà Thanh sang Trung Quốc.

            Sau năm năm sống lưu vong nhục nhã trên đất Mãn Thanh. Tháng 10 năm Quý Sửu (1793), Lê Chiêu Thống chết ở Yên Kinh (Trung Quốc) thọ 28 tuổi, ở ngôi vua chưa được 3 năm.

            Như vậy, nhà Lê Trung Hưng từ Lê Trang Tông đến vua Lê Chiêu Thống, trải qua 16 đời vua với 255 năm trị vì.

 

Phần đọc thêm

DANH NHÂN THỜI LÊ - MẠC

 

QUÂN SƯ NGUYỄN TRÃI

Nguyễn Trãi là khai quốc công thần bậc nhất của triều Lê Sơ. Người đã thảo "Bình Ngô đại cáo", một thiên cổ hùng văn bất hủ của dân tộc ta. Một danh nhân văn hoá thế giới, được cả thế giới tổ chức kỷ niệm (1980) nhân dịp 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi sinh năm 1380, cha là Nguyễn Ứng Long (tức Phi Khanh) quê xã Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương sau dời về ở làng Nhị Khê, Thường Tín (Hà Tây ngày nay), dạy học ở làng Chi Ngãi, Côn Sơn, Chí Linh (Hải Dương). Mẹ là Trần Thị Thái, con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán (cháu 4 đời của Thái sư Trần Quang Khải).

Tháng 3-1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh lấy cớ đó đưa quân sang xâm lược nước ta. Trương Phụ đem quân đánh bắt được cha con Hồ Quý Ly cho giải về Trung Quốc, chúng đem theo cả Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo cha đến ải Nam Quan. Nguyễn Phi Khanh đã khuyên con nên về để "đền nợ nước, trả thù nhà!".

Nghe theo lời cha dạy, Nguyễn Trãi trở về thì bị quân Minh bắt giam lỏng ở thành Đông Quan (Hà Nội) nhiều năm, Hoàng Phúc đã nhiều lần mua chuộc, dụ dỗ Nguyễn Trãi theo chúng, nhưng Nguyễn Trãi nhất định không nghe, chịu cảnh sống nghèo khổ bằng nghề dạy học để chờ thời cơ.

Sau Nguyễn Trãi đã cùng Trần Nguyên Hãn trốn vào Lam Sơn (Thanh Hoá) theo phò Lê Lợi. Nguyễn Trãi đã đem sách "Bình Ngô" dâng cho Lê Lợi, Sách “Bình Ngô” không nói đến đánh thành mà chỉ chú ý vào việc thu phục lòng người. Sách được Lê Lợi chấp nhận và  là tư tưởng chỉ đạo suốt cả cuộc kháng chiến chống quân Minh.

Nguyễn Trãi được Lê Lợi tin dùng, cử làm quân sư, giữ luôn bên mình để bàn đại sự.

Theo kế sách của Nguyễn Trãi và sự thỉnh cầu của các tướng, ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7-2-1418), Lê Lợi xưng là Bình Định Vương phất cờ khởi nghĩa, mở đầu cuộc kháng chiến chống quân Minh kéo dài suốt 10 năm gian khổ, nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, lúc nào Nguyễn Trãi cũng ở bên cạnh Lê Lợi để bàn mưu định kế.

Cuộc kháng chiến trường kỳ đó là một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng du kích chiến để tiêu hao sinh lực địch, nghĩa quân ngày một mạnh lên, đã dùng kế sách của Nguyễn Trãi: "Vây thành diệt viện". Quân ta bao vây thành Đông Quan, thuyết phục giặc đầu hàng. Nhà Minh sai tướng An Viễn hầu Liễu Thăng dẫn 10 vạn quân và Kiềm Quốc công Mộc Thạnh dẫn 5 vạn quân theo hai đường sang cứu viện.

Lê Lợi đã theo kế sách của Nguyễn Trãi cử Đại tư đồ Trần Nguyên Hãn hạ thành Xương Giang trước khi viện binh của Liễu Thăng đến. Sau đó, Trần Nguyên Hãn đã dẫn quân đến mai phục ở Chi Lăng.

Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), nghĩa quân đã chém được đầu Liễu Thăng ở núi Mã Yên, làm nên chiến thắng Chi Lăng đánh bại 10 vạn viện binh của nhà Minh.

Mười vạn viện binh của Liễu Thăng bị đại bại, đạo quân của Mộc Thạnh không đánh mà tan. Vương Thông bị vây trong thành Đông Quan, cùng kế phải "xin hoà".

Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã lấy đức hiếu sinh cấp lương thực cho 10 vạn quân Minh được an toàn rút về nước.

Năm 1428, cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Nguyễn Trãi được Lê Lợi uỷ thác thảo chiếu "Bình Ngô đại cáo" (Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của Tổ quốc ta).

Trong lễ mừng công ban thưởng sau chiến thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi được phong tước Quan Phục hầu, chức Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư kiêm Quản công khu mật viện. Nhưng Nguyễn Trãi không được vua Lê Thái Tổ tin dùng nữa, nên những hoài bão lớn lao, muốn xây dựng xã hội thịnh trị như thời Nghiêu, Thuấn đều không được thực hiện.

Nguyễn Trãi đã xin cáo quan về nghỉ ở Côn Sơn, vui với rặng thông, rừng trúc, xa lánh triều đình lắm gian thần, nịnh hót. Ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã sáng tác rất nhiều thơ văn cho hậu thế.

Trước khi mất, có lẽ Lê Lợi đã nhận thấy lỗi lầm của mình, đã dặn lại Thái tử Nguyên Long phải trọng dụng Nguyễn Trãi, nên Lê Thái Tông đã vời Nguyễn Trãi về kinh đô giúp việc nước. Mặc dù tuổi đã cao, nhưng Nguyễn Trãi vẫn hăng hái đem hết tài trí để phục vụ cho dân, cho nước.

Nhưng không ngờ, một sự kiện bi thảm nhất dưới triều Lê là cái chết đột ngột của vua Lê Thái Tông, gây ra vụ án oan nghiệt giáng xuống Nguyễn Trãi và gia đình ông vào tháng 8 năm 1442 mà sử xưa gọi là vụ án "Lệ chi viên" (vụ án vườn vải).

Ngày 27 tháng 7 năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8, Vua về đến Lệ chi viên thuộc huyện Gia Bình (nay là Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với Vua có Nguyễn Thị Lộ, người thiếp của Nguyễn Trãi, khi ấy đã vào tuổi 40 được vua rất yêu quý vì sắc đẹp, văn thơ hay. Khi ở Lệ chi viên, vua đột ngột mất tại đó. Các quan bí mật đưa về kinh đô, nửa đêm ngày 6 tháng 8 mới phát tang.

Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án "tru di tam tộc" rất thảm thương.

Hai mươi năm sau, kể từ khi Nguyễn Trãi bị hại, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi và cấp cho con cháu Nguyễn Trãi 100 mẫu ruộng để dùng vào việc thờ cúng vị "khai quốc công thần" bị chết oan.

Trong khúc "Quỳnh uyển ca", vua Lê Thánh Tông viết:

"Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo"

(Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê)

Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà chiến lược thiên tài, nhà hiền triết uyên thâm. Ông đã cống hiến cho dân tộc ta về tư tưởng dân chủ, quý trọng nhân dân. Đó là tư tưởng chính trị tiến bộ. Là nhà chiến lược, ông đề xuất những tinh hoa về “thế” và “thời” để ít có thể thắng nhiều, nhỏ có thể thắng lớn. Là nhà hiền triết, ông đã biết kết hợp khách quan với chủ quan, biết vận dụng điều kiện, hoàn cảnh và tạo ra sức mạnh để đánh thăng quân xâm lược.

Nguyễn Trãi đã để lại cho nhân dân ta những tinh hoa văn hoá tiến bộ.

 

TƯỚNG QUÂN TRẦN NGUYÊN HÃN

Trần Nguyên Hãn là một trong những người khai quốc công thần bậc nhất của triều Lê Sơ.

Trần Nguyên Hãn là con Trần Án, cháu nội của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.

Để mưu việc cướp ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly đã thẳng tay sát hại tôn tộc nhà Trần. Trước hoạ tru diệt huyết thống, năm Ất Sửu (1385), bà Lê Thị Hoàn đang lúc bụng mang dạ chửa đã phải chạy lên lánh nạn ở trang Sơn Đông ngay sau khi chồng là Trần án và con trai cả bị Hồ Quý Ly sát hại. Bà cầu mong đứa con trong bụng sẽ là đứa con trai có tài cao, đức rộng, mai sau có thể rửa được thù nhà. Mong ước ấy bước đầu đã đạt được. Bà sinh Trần Nguyên Hãn vào lúc gia đình tan nát, sống trong cảnh thiếu thốn. Mặc dù là quý tộc nhưng bà không quản nắng mưa, tần tảo để nuôi con nên người.

Trần Nguyên Hãn từ bé đã thông minh xuất chúng, học đâu nhớ đấy và ngày càng tỏ rõ là người có chí lớn. Bà đã rau cháo nuôi con đi học, mua binh thư cho con nghiền ngẫm, bà thường kể cho con nghe về công lao to lớn của tổ tông và mối thù nhà, bà khuyên dạy Trần Nguyên Hãn phải chịu khó rèn văn, luyện võ.

Trần Nguyên Hãn lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, quân Minh đã chiếm được nước ta, chúng thi nhau cướp bóc, giết hại dân lành. Nhiều lúc Trần Nguyên Hãn đã bầm gan tím ruột, nhưng cố nuốt hận, ra sức học tập văn võ, binh thư để mong mai sau "đền nợ nước, trả thù nhà".

Thấy con đã trưởng thành và có chí lớn, bà Lê Thị Hoàn đã trao cho con "thanh kiếm gia truyền" của cụ tổ bảy đời là Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải.

Bà nghiêm nghị nhìn con, nói:

- Cha con quý thanh bảo kiếm này hơn cả tính mạng mình. Cụ tổ bảy đời đã dùng nó để đánh giặc Nguyên - Mông. Nay giặc Minh sang giày xéo đất nước, giết hại dân mình, con là người có chí, có tài, hãy biết giữ lấy nó, làm rạng danh cho tổ tông.

Trần Nguyên Hãn đã quỳ xuống đỡ lấy kiếm quý, giọng nghẹn ngào nói:

- Con hiểu lòng mẹ. Con sẽ không để danh tiếng của thanh bảo kiếm này mai một. Con sẽ mài cho nó thêm sắc và dùng vào việc đại nghĩa.

Trần Nguyên Hãn bí mật chiêu tập trai tráng trong vùng Sơn Đông, lấy Rừng Thần làm nơi luyện tập để chờ thời cơ đánh giặc cứu nước.

Năm 1415, Trần Nguyên Hãn dẫn đầu nghĩa quần Rừng Thần hạ được thành Tam Giang, làm cho quân Minh phải kinh hồn bạt vía. Nghĩa quân của Trần Nguyên Hãn làm chủ cả vùng Bạch Hạc (Vĩnh Phú).

Gần tết năm Mậu Tuất (1418), giữa lúc Lê Lợi, Nguyễn Trãi và trên ba chục võ tướng đang dốc sức cho ngày khởi nghĩa thì tin vui chợt đến: Danh tướng Trần Nguyên Hãn, người đã từng làm cho quân Minh kinh hồn bạt vía, đem 200 quân cùng hàng trăm ngựa chiến từ vùng Bạch Hạc về tụ nghĩa với nghĩa quân Lam Sơn. Lê Lợi cùng các tướng thân ra ngoài đón Trần Nguyên Hãn và nghĩa quân Rừng Thần.

Trần Nguyên Hãn đem quân theo về phò Lê Lợi đã có nhiều đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến chống quân Minh.

Theo sáng kiến của Trần Nguyên Hãn, một mặt đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hoá, mặt khác Trần Nguyên Hãn được Lê Lợi cử đem một nghìn quân đánh chiếm Tân Bình, Thuận Hoá để mở rộng địa bàn hoạt động và để nghĩa quân tránh thế bị đánh cả hai đầu. Dưới sự chỉ huy tài giỏi của Trần Nguyên Hãn, chỉ trong ít ngày, toàn bộ vùng Tân Bình, Thuận Hoá được khôi phục. Theo lệnh của Trần Nguyên Hãn, nghĩa quân lấy kho lương của giặc cấp phát cho dân đang bị nạn đói. Nhân dân trong vùng vô cùng cảm ơn cứu mệnh của nghĩa quân Lam Sơn, hâm mộ tài đức của Trần Nguyên Hãn, hai vạn trai tráng khắp nơi kéo đến xin theo nghĩa quân.

Trong đợt phản công đánh quân Minh, Trần Nguyên Hãn được cử thống lãnh các lực lượng thuỷ binh đánh mũi phía Đông. Lê Lợi tự chỉ huy đại quân đánh mũi phía Tây, cả hai cánh quân phối hợp đánh dốc vào Đông Quan giết được nhiều giặc, buộc Vương Thông phải rút vào thành cố thủ.

Để giải vây thành Đông Quan, Minh Tuyên Đức đã cử Liễu Thăng và Mộc Thạch đem 15 vạn binh chia làm 2 đạo sang cứu viện. Lập tức Lê Lợi cho triệu các tướng đến bản doanh, rồi theo kế của quân sư Nguyễn Trãi, quyết định:

- Đánh thành Đông Quan lúc này là hạ sách, thành kiên cố vững chắc đánh hàng tháng, hàng năm không hạ nổi, quân ta sức mệt, chí nản. Nếu viện binh của giặc đến thì mặt trước mặt sau ta đều bị giặc đánh, đó là con đường nguy. Sao bằng nuôi lấy sức quân, giữ lấy nhuệ khí để đợi viện binh giặc. Viện binh giặc bị phá thì quân trong thành tất phải hàng. Làm một việc được cả hai, đó mới là toàn kế vậy!

Nguyễn Trãi bàn thêm:

- Trong hai đạo viện binh thì đạo của An viễn hầu Liễu Thăng cậy có quân lắm, ngựa nhiều cần phải dốc sức đánh trước. Muốn diệt được đạo quân này, trước hết phải hạ được thành Xương Giang đã. Bởi vì thành này nằm trên lộ Lạng Sơn đến Đông Quan. Đánh Xương Giang là đánh thông đường để đại binh ta lên Lạng Sơn chặn giặc.

Lê Lợi nóng nảy:

- Ta đã phái các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú phối hợp với quân dân Lạng Sơn, Khoái Châu vây đánh thành Xương Giang cùng với các tướng Trần Lựu, Lê Bôi đi đánh Khâu Ôn từ mấy tháng nay rồi. Thành Khâu Ôn đã hạ được mà thành Xương Giang thì chưa. Các tướng ấy sao nỡ phụ lòng ta đến thế?

Trần Nguyên Hãn nói:

- Tâu vương thượng, Xương Giang là một thành kiên cố. Tường thành cao và dày. Ngoài thành có hào sâu bốn bề bao bọc, địa thế lại hiểm trở.

- Quân giặc ở đấy có bao nhiêu? - Lê Lợi dịu giọng hỏi Trần Nguyên Hãn.

- Giặc không đông lắm. Nhưng tướng giặc gồm bọn Kim Dận, Lý Nhậm, Cố Phúc, Phùng Trí là bọn am hiểu binh thư, lại cố chết chống lại. Bọn giặc ấy cũng đã bắt hàng vạn sĩ dân vào thành làm bia đỡ đạn nên việc đánh thành thật là khó.

- Quan Tư đồ lại phải ra tay một phen mới được - Lê Lợi nói, dáng quả quyết - Phải hạ được thành Xương Giang trước khi viện binh của Liễu Thăng đến. Tình thế gấp lắm rồi. Quan Tư đồ hãy sửa soạn đi ngay.

Lại một lần nữa, Trần Nguyên Hãn vâng mệnh Lê Lợi đem quân đến một mặt trận khó khăn và quan trọng. Vừa đến Xương Giang, Trần Nguyên Hãn đã ra sức khích lệ quân dân quyết hạ thành bằng được. Là người tinh thông binh pháp và có tài dụng binh, sau khi đi xem xét địa thế, Trần Nguyên Hãn đã có một kế sách đánh thành rất táo bạo.

Ngày 8 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), kế đánh thành thần diệu đặt dưới quyền thống lĩnh của Trần Nguyên Hãn đã diễn ra nhanh chóng và quyết liệt. Với kế đánh kỳ diệu của Trần Nguyên Hãn, lòng dũng cảm vô song của dân chúng và nghĩa quân Lam Sơn, đã buộc giặc phải quỳ gối đầu hàng. Chiến trận diễn ra chưa đầy 1 giờ. Các tướng giặc đều bị bắt sống và bị giết trong đám loạn quân.

Tin thắng trận nhanh chóng bay về Đông Quan ngoài dự đoán của Lê Lợi và Nguyễn Trãi.

Lê Lợi phấn khởi nói:

- Đại Tư đồ Trần Nguyên Hãn không phụ lòng ta. Tài cầm quân của quan Đại Tư đồ quả là bản triều không ai sánh được. Ta không ngờ thắng nhanh đến thế. Ta lại phải phái quan Tư đồ lên Chi Lăng chặn Liễu Thăng một phen mới xong.

- Theo lệnh của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn lại một lần nữa thể hiện tài năng cầm quân xuất chúng của mình. Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi, Liễu Thăng kiêu ngạo tự đốc xuất quân tiên phong từ ải Pha Luỹ tràn xuống Chi lăng. Lập tức Trần Nguyên Hãn, Lê Sát tung quân ra phục đánh, chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên. Các trận đánh diệt viện binh diễn ra suốt tuyến đường từ Chi Lăng về Xương Giang. Nghĩa quân Lam Sơn dưới sự chỉ huy của viên dũng tướng tài giỏi, dày dạn kinh nghiệm, chỉ trong 25 ngày đã đánh bại 10 vạn viện binh hùng tướng mạnh của nhà Minh. Trong chiến công vang dội ấy, Trần Nguyên Hãn nổi lên như ngôi sao sáng chói.

Cuộc kháng chiến chống quân Minh hoàn toàn thắng lợi sau 10 năm gian khổ, vào sinh ra tử có công lao to lớn của Trần Nguyên Hãn. Tháng 11 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi mở đại hội các quan văn võ luận công ban thưởng, đã phong cho Trần Nguyên Hãn chức Tả Tướng quốc (chức quan võ cao nhất lúc đó).

 

TRÌNH QUỐC CÔNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Người được dân gian truyền tụng và suy tôn là "Nhà tiên tri" số một của nước ta là Trạng Trình, vì ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình". Một điều khá lý thú là cách đây ngót 500 năm, ngay trang đầu của tập "Trình tiên sinh quốc ngữ" của Trạng Trình có ghi: "Việt Nam khởi tổ xây nền", ông đã khẳng định nước ta tên là Việt Nam. Một sự tiên đoán vô cùng chính xác.

Trạng Trình mà nhân dân thường gọi đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm, tên huý là Văn Đạt, vì ông đỗ Trạng nguyên, sau được phong là Trình Quốc công.

Nguyễn Bỉnh Khiêm người làng Trình Tuyền (Trung Am) huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) đời vua Lê Thánh Tông, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.

Lớn lên được theo học cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông đã sáng dạ, thông minh lại nết na, chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.

Vì tình hình đất nước không ổn định nên mãi đến năm Giáp Ngọ (1534), khi 43 tuổi Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đi thi, đỗ ngay Giải Nguyên, năm sau đi thi Hội, lại đỗ Hội nguyên, đi thi Đình, đỗ ngay Trạng nguyên.

Ông làm quan cho nhà Mạc được tám năm, đến đời Mạc Phúc Hải, thấy triều đình lắm kẻ gian thần, lộng quyền, đục khoét, ông dâng sớ chém mười tám lộng thần đều là những kẻ quyền quý cả. Vua Mạc không nghe. Ông trả lại mũ áo, cáo quan về mở trường dạy học. Ông dựng một cái am nhỏ bên hồ đặt tên là am Bạch Vân và lấy tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Ông vốn là người tha thiết với việc dân, việc nước, song vì triều đình đổ nát, trăm quan hư hỏng, ông không muốn đem thân vào chốn đua chen nịnh hót, dấn mình vào đám bùn nhơ ô uế. Bởi thế phải xa lánh công danh vê quê ẩn dật, ông vẫn đem hết tài trí và tâm huyết truyền cho đám học trò, ngầm mong họ sẽ thay ông giúp đời cứu nước. Nhiều học trò danh tiếng của ông như Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Trường Thời Cử, sau này quả đã nối được chí thầy. Dân gian truyền tụng nhiều về những câu nói có tính chiến lược của Trạng Trình đã giúp cho các vua chúa thời ông sống được vẹn toàn.

Đầu tiên với vua Lê - chúa Trịnh:

Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, đã diệt gần hết tôn tộc nhà Lê. Sau có cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim đã khởi binh ở Sầm Nưa (Lào) chống lại nhà Mạc. Nguyễn Kim đã tìm được một người cháu (hậu duệ của vua Lê Thái Tổ) đem về lập làm vua tức là Lê Trang Tông.

Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc đánh thuốc độc chết, binh quyền nằm cả vào tay con rể là Trịnh Kiểm.

Năm 1556, Lê Trung Tông (con Lê Trang Tông) mất lại không có con nối ngôi, Trịnh Kiểm trù trừ tìm người dòng dõi nhà Lê lên nối ngôi, vì muốn tự mình lên ngôi vua. Không biết nên thế nào cho phải, Trịnh Kiểm bèn bàn với Phùng Khắc Khoan; Phùng Khắc Khoan cũng phân vân, mới sai người đi Vĩnh Lại hỏi thầy mình là Trạng Trình. Nghe người đó trình bày xong, Trạng Trình không nói gì cả, chỉ ngoảnh lại bảo người nhà rằng:

- Năm nay lúa không tốt, vì thóc giống không chắc. Chúng bay nên tìm thóc cũ gieo thì tốt.

Nói xong, Trạng chống gậy đi chơi chùa. Khách đi theo, Trạng nói với nhà sư chứ không nói với khách:

- Nhà sư chăm cúng Phật mà ăn oản nhé.

Khách về nói lại với Phùng Khắc Khoan, Phùng Khắc Khoan trình bày với Thái sư Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm hiểu thâm ý của Trạng Trình khuyên là hãy tôn phò nhà Lê lên làm vua cho thuận lòng dân, bèn sai người đến làng Bố Vệ rước Lê Duy Bang là cháu 6 đời của Lê Trừ (anh thứ hai của Lê Lợi) về lập làm vua, tức là Lê Anh Tông.

Sau là với chúa Nguyễn:

Từ khi thay bố vợ là Nguyễn Kim cầm binh quyền, Trịnh Kiểm sợ hai em vợ là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tranh giành quyền bính, nên Trịnh Kiểm ám hại Nguyễn Uông và ngấm ngầm định ám hại nốt Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng sợ hãi, sai người tìm đến hỏi Trạng Trình xem nên làm thế nào để thoát khỏi bàn tay hãm hại của Trịnh Kiểm.

Được hỏi nhưng Trạng Trình không trả lời ngay, chỉ chống gậy ra sân, ngắm hòn non bộ, nhìn đàn kiến đang "leo núi" mà nói bâng quơ rằng: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân", (một dải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).

Nguyễn Hoàng hiểu ý mới về nói với chị gái (vợ Trịnh Kiểm) xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Trịnh Kiểm nghĩ Thuận Hoá là nơi biên cương cùng đường, tuyệt lộ, đất cằn, người thưa, dẫu Nguyễn Hoàng có phản nghịch thì chẹn đường, sai tướng đánh dẹp là xong, còn hơn giết đi thì sợ thất nhân tâm, mà giữ lại thì lo ngay ngáy ngày đêm, nên đã đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá vào năm Mậu Ngọ (1558).

Không ngờ Nguyễn Hoàng tự nhún mình, khai khẩn đất hoang, mở mang bờ cõi về phía Nam, một mặt thần phục họ Trịnh, thỉnh thoảng còn cho người ra Thanh Hoá xin viện binh đánh Chiêm Thành nữa. Đến khi đủ lực lượng, họ Nguyễn mới ra mặt tuyên chiến với họ Trịnh từ năm 1627, gây dựng nên cơ nghiệp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Mùa đông năm Ất Dậu (1585), Nguyễn Bỉnh Khiêm lâm bệnh nặng. Nghe tin Trạng Trình bệnh nặng, vua Mạc Mậu Hợp cử quan khâm sai về hỏi xin ý kiến Trạng về tương lai. Trạng Trình nói: "Cao Bằng tuy tiểu, khả dung sổ thế" (Cao Bằng tuy nhỏ cũng được vài đời).

Quả nhiên sau này bị thất bại, nhà Mạc đã chạy lên Cao Bằng, và còn tồn tại ở đấy được đến năm 1677 mới mất hẳn. Ngày nay ở Cao Bằng có nhiều người dân tộc thiểu số mang họ Mạc, chính là con cháu của nhà Mạc xưa.

Trạng Trình mất, thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được Nhà Vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng Vương đã thay mặt Vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm từ tước Trình Tuyền hầu lên tước Thái phó Trình Quốc công.

 

LÊ QUÝ ĐÔN

Lê Quý Đôn là nhà văn hóa lớn Việt Nam thời Hậu Lê, thuở nhỏ có tên là Lê Danh Phương, sau đổi là Lê Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Quê làng Duyên Hà, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời, thân phụ là Lê Phú Thứ làm quan triều Lê. Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, có trí nhớ phi thường được nhiều người đương thời xem là thần đồng.

Năm Quý Hợi (1743) đỗ Giải nguyên, năm Nhâm Thân (1752) đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn). Từ thi Hương đến thi Hội đều đỗ đầu. Sau khi thi đỗ được bổ Thị độc tòa Hàn Lâm, sung Tư nghiệp Quốc Tử giám. Năm Canh Thìn (1760) làm Phó sứ đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Học vấn văn chương được cả người Thanh và sứ thần Triều Tiên ca ngợi, khi về được phong tước Dĩnh Thành bá, rồi thăng Hàn Lâm viện thừa chỉ, Đốc đồng Hải Dương. Sau chuyển về Kinh làm Tổng tài Quốc sự quán cùng Nguyễn Hoàn khảo duyệt phần Tục biên Quốc sử.

Năm Quý Tỵ (1773) được bổ Phó Đô ngự sử, rồi thăng Hữu thị lang bộ Công. Năm 1776 được cử làm Tham tri Tham Tán quân cơ các đạo Thuận Hóa - Quảng Nam. Sau đó đổi về Thăng Long làm Hành Tham tụng tại triều, được phong tước Dĩnh Thành hầu.

Ngày 2-6-1784 (năm Cảnh Hưng thứ 45), ông mất tại chức, thọ 58 tuổi. Sau khi mất được truy tặng Thượng thư bộ Công tước Dĩnh Thành hầu.

Lê Quý Đôn là một học giả uyên bác, đa dạng và sung mãn nhất của Văn hóa Việt Nam. Giới nghiên cứu thế giới (Pháp) xem ông là nhà bác học về lĩnh vực văn hóa của nước ta. Công trình trước tác và sáng tác của ông gồm một thư tịch đồ sộ về nhiều bộ môn: Lịch sử, Địa lý, Văn học, Ngôn ngữ học, Triết học….

Các tác phẩm chính gồm:

- Quốc sử tục biên (8 quyển)

- Đại Việt thông sử hay Lê triều thông sử (30 quyển)

- Phủ biên tạp lục (7 quyển)

- Quần thư khảo biện (4 quyển)

- Xuân Thu lược luận

- Bắc sử thông lục (3 quyển)

- Toàn Việt thi lục (3 quyển)

- Vân đài loại ngữ (4 quyển)

- Quế Đường văn tập (3 quyển)

- Dịch kinh phủ thuyết (6 quyển)

- Kiến văn tiểu lục (3 quyển)

- Danh thần lục (2 quyển)

- Thư kinh diễn nghĩa (3 quyển)

- Toàn việt văn tập (20 quyển)

- Hoàng việt vân hải (10 quyển)

- Quế Đường thi tập (4 quyển)

và một số thơ, thơ phú bằng chữ Nôm.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, khi bình luận về ông, Phan Huy chú viết: "Ông (Lê Quý Đôn) tư chất khác thường, thông minh hơn người… bình sinh làm sách rất nhiều, khi bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói đến điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời".

(Theo Từ điển NVLSVN)

 

THỜI KỲ TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

A. CÁC CHÚA TRỊNH Ở ĐÀNG NGOÀI

1. Thế tổ Minh khang Thái vương (Trịnh Kiểm) (1545-1570)

Trịnh Kiểm người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Truyện kể rằng: Trịnh Kiểm mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con rau cháo nuôi nhau, khi mẹ già thì Kiểm đi làm thuê, gánh mướn nuôi mẹ. Một hôm đi làm về, không thấy mẹ, Kiểm bổ đi tìm, đến sáng thì được tin mẹ đã chết đuối ở vực gần nhà, khi ra vực, Kiểm thấy mối đã đùn thành gò rồi, Kiểm buồn lắm bỏ làng ra đi, và nương nhờ làm gia tướng cho Thái phó Nguyễn Kim.

Kiểm không được học hành nhiều, nhưng rất thông minh, can đảm và mưu lược hơn người. Nguyễn Kim mến tài đem con gái yêu là Ngọc Bảo gả cho Trịnh Kiểm. Năm 1533, Nguyễn Kim sai Trịnh Kiểm đem quân sang Ai Lao đón Lê Duy Ninh về lập làm vua là Lê Trang Tông. Vua thấy Trịnh Kiểm tướng mạo khác thường, bèn phong cho là Đại tướng quân, lúc đó Kiểm 37 tuổi.

Năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc đánh thuốc độc chết, binh quyền về tay Trịnh Kiểm.

Vua Lê Trang Tông ở ngôi chí tôn nhưng quyền hành đều do Trịnh Kiểm nắm giữ.

Năm 1548, Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử Huyên (con Trang Tông) lên nối ngôi là Trung Tông. Vua Trung Tông cũng chỉ ở ngôi được 8 năm thì mất khi mới 22 tuổi, không có con nối ngôi. Trịnh Kiểm muốn nhân dịp này tự lập làm vua, nhưng còn phân vân, bèn sai Phùng Khắc Khoan đi hỏi ý kiến Trạng Trình. Cụ Trạng trả lời với thâm ý khuyên Trịnh Kiểm hãy tôn phò nhà Lê cho thuận lòng dân. Hiểu ý, Trịnh Kiểm đã sai người đến làng Bố Vệ rước Lê Duy Bang về lập làm vua tức là Lê Anh Tông. Từ khi nắm quyền bính, Trịnh Kiểm ra sức củng cố lực lượng, thu hút nhân tài, nên Nam triều ngày càng mạnh lên. Nhà Mạc (Bắc Triều) sai Đại tướng Mạc Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hoá tới 10 lần, ngược lại Trịnh Kiểm cũng kéo quân ra đánh Sơn Nam trước sau 6 lần. Nam triều đã lấy được các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hoá, Gia Viễn. Năm Kỷ Tỵ (1569), vua Lê gia phong cho Trịnh Kiểm làm Thượng tướng Thái quốc công và tôn là Thượng phụ.

Tháng 02 năm Canh Ngọ (1570), Trịnh Kiểm mất, được truy tôn làm Minh Khang Thái vương, thuỵ là Trung Huân.

Trịnh Kiểm nắm quyền của Nam Triều 26 năm trải qua ba đời vua, thọ 68 tuổi.

2. Bình An Vương (Trịnh Tùng) (1570-1623):

Khi Trịnh Kiểm chết, vua Lê Anh Tông trao quyền bính cho Trịnh Cối (con vợ cả của Trịnh Kiểm). Nhưng Trịnh Cối ham mê tửu sắc, ngày càng kiêu ngạo, càn rỡ, các tướng sĩ không phục.

Tháng 4 năm Canh Ngọ (1570), các tướng như Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu, Trịnh Bách, Phan Công Tích đem quân về với Trịnh Tùng. Trịnh Tùng là con thứ của Trịnh Kiểm với Ngọc Bảo (con gái Nguyễn Kim). Tùng khôi ngô tuấn tú, có tài thao lược, trọng nhân tài nên được tướng sĩ yêu mến.

Trịnh Tùng cùng các tướng sĩ phò giá Vua Lê Anh Tông dời hành tại vào thành Vạn Lại, chia quân canh giữ để đề phòng Trịnh Cối. Trịnh Cối đích thân đem hơn một vạn quân đến bao vây thành Vạn Lại.

Hai bên đánh nhau giằng co bảy ngày, vua Lê Anh Tông đứng ra hoà giải cũng không được. Cuối cùng Trịnh Cối phải rút quân về Biện Thượng.

Được tin anh em họ Trịnh đánh nhau, tháng 8 năm Canh Ngọ (1570), vua Mạc sai Mạc Kính Điển đem 10 vạn quân và 700 chiến thuyền vào đánh Thanh Hoá. Trịnh Cối lo sợ, vội đem mẹ, vợ con và các thuộc tướng đến hàng nhà Mạc. Mạc Kính Điển phong cho Cối làm Trung Lương hầu.

Vua Lê Anh Tông phong cho Trịnh Tùng làm Trưởng quận công, Tiết chế thuỷ bộ chủ dinh cầm quân đánh Mạc.

Tháng 12 năm đó, sau 4 tháng tấn công vào Thanh Hoá không thắng được. Mạc Kính Điển phải rút quân về Bắc. Trịnh Cối cùng mẹ và vợ con chạy theo quân Mạc.

Năm Nhâm Thân (1572), Lê Cập Đệ mưu giết Trịnh Tùng bị lộ, Lê Cập Đệ bị Trịnh Tùng giết chết. Vua Lê Anh Tông sợ hãi, đang đêm đem 4 hoàng tử chạy vào thành Nghệ An.

Trịnh Tùng đưa hoàng tử thứ 5 của vua Lê là Duy Đàm lên làm vua, hiệu là Lê Thế Tông. Sau hơn mười năm liên tục mở các cuộc tấn công ra Bắc, cuối cùng Trịnh Tùng đã đánh bại được nhà Mạc, khôi phục được cố đô Thăng Long vào năm 1592.

Năm Ất Mùi (1595), Trịnh Tùng đón vua vào Thăng Long và bắt đầu tổ chức bộ máy cai trị theo quy mô của bậc đế vương. Trịnh Tùng sai sứ sang nhà Minh xin sắc phong cho vua Lê là An Nam đô thống sứ, và buộc Vua Lê phong cho mình làm Đô nguyên suý Tổng quân quốc chính thượng phụ, tước Bình An Vương.

Trịnh Tùng cho lập phủ liêu riêng gồm đủ cả lục phiên tương đương với lục bộ của triều Vua. Phủ Chúa toàn quyền đặt quan chức, thu thuế, bắt lính... Vua chỉ có mặt trong những dịp long trọng đặc biệt như tiếp sứ Tàu mà thôi. Từ đấy bắt đầu thời kỳ "Vua Lê - Chúa Trịnh". Con chúa Trịnh được quyền thế tập gọi là Thế Tử.

Trước sự hống hách, lộng quyền của chúa Trịnh, vua Lê Kính Tông đã cùng với con Trịnh Tùng là Trịnh Xuân mưu giết Trịnh Tùng, việc bại lộ, Trịnh Tùng bức vua thắt cổ chết, lúc đó mới 32 tuổi. Tùng đưa thái tử Duy Kỳ lên ngôi vua là Lê Thần Tông.

Ngày 20 tháng 6 năm Quý Hợi (1623), Trịnh Tùng mất, cầm quyền 53 năm, thọ 74 tuổi.

3. Thanh Đô Vương (Trịnh Tráng) (1623-1657):

Mạc Kính Khoan đang chiếm xứ Cao Bằng nghe tin Trịnh Tùng chết, các con (Trịnh Xuân, Trịnh Tráng) đánh nhau để giành ngôi chúa, liền từ Cao Bằng kéo hàng vạn quân xuống Gia Lâm, Trịnh Tráng phải rước vua Lê chạy vào Thanh Hoá.

Tháng 8 năm Quí Hợi (1623), Trịnh Tráng đem quân ra phá tan quân của Kính Khoan. Kính Khoan một mình chạy thoát thân. Trịnh Tráng lại rước vua Lê trở lại kinh đô, vua Lê phong cho Trịnh Tráng chức Nguyên suý thống quốc chính Thanh Đô Vương.

Tạm yên mặt Bắc, Trịnh Tráng lo đối phó mặt Nam. Lúc này ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã ra mặt chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

Trịnh Tráng nhiều lần lấy danh nghĩa vua Lê đem quân đi đánh Phúc Nguyên nhưng quân Nguyễn lợi dụng địa thế hiểm trở, đắp luỹ dài chống cự quyết liệt, quân Trịnh không làm gì được, phải rút về.

Để thắt chặt thêm quan hệ gắn bó giữa nhà chúa và Vua Lê, Trịnh Tráng đem con gái của mình (đã lấy chồng có bốn con với chú họ của vua Lê), gả cho vua Lê, lập làm Hoàng hậu. Vua Lê đành phải chấp nhận.

Năm ất Dậu (1645), Trịnh Tráng xin vua Lê phong cho con thứ hai là Tây quận công - Trịnh Tạc làm Khâm sai tiết chế các sứ thuỷ bộ chủ dinh chương quốc quyền bính, tả tướng thái uý Tây quốc công và được quyền nối ngôi chúa.

Năm Đinh Dậu (1657), Trịnh Tráng mất thọ 81 tuổi, ở ngôi chúa 30 năm.

4. Tây Đô Vương (Trịnh Tạc) (1657-1682):

Trịnh Tạc là con thứ hai được cha chọn làm Nguyên suý chưởng quốc chính Tây Định Vương từ năm Quí Tỵ (1653), khi Trịnh Tráng đang còn sống. Sự không chọn Trịnh Toàn nối ngôi chúa đã dẫn đến mâu thuẫn ngấm ngầm giữa Toàn và Tạc.

Tháng 4 năm Định Dậu (1657), Trịnh Tạc đã sai đình thần tống ngục và tra hỏi Trịnh Toàn cho đến chết.

Năm Đình Mùi (1667), Trịnh Tạc tự phong Đại nguyên soái thượng sư Thái phụ Tây Đô Vương.

Năm Nhâm Tí (1672), Trịnh Tạc ép vua Lê đem quân vào đánh chúa Nguyễn một trận lớn ở châu Bố Chính, quân Trịnh chiếm được luỹ Trấn Ninh, quân Trịnh huy động 3 vạn quân vượt sông Gianh đánh vào cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn ra sức chống cự nhờ có hệ thống thành luỹ kiên cố, tháng 12 - 1672, Trịnh Tạc phải rút đại binh về chỉ để Lê Thời Hiến trấn giữ Nghệ An, từ đó Đàng Ngoài và Đàng Trong tạm ngừng chiến, lấy sông Gianh làm giới tuyến.

Tháng 7 năm Giáp Dần (1674), Trịnh Tạc xin vua Lê phong cho con là Trịnh Căn làm Nguyên soái.

Tháng 5 năm Nhâm Tuấn (1682), Trịnh Tạc mất, thọ 77 tuổi, ở ngôi chúa 25 năm.

5. Định Vương (Trịnh Căn) (1682-1709):

Trịnh Căn là con trưởng của Trịnh Tạc được nối ngôi chúa là Định Vương.

Dưới thời Trịnh Căn, chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã tạm dừng. Trịnh Căn có điều kiện để củng cố bộ máy cai trị. Giúp việc cho chúa Trịnh lúc đó có nhiều người đỗ đạt cao như Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Quí Đức, Đặng Đình Tướng nên đã ổn định được xã hội, kinh tế được phát triển như nông nghiệp và thủ công nghiệp.

Bằng nhiều cố gắng ngoại giao, chúa Trịnh đã buộc nhà Thanh trả lại một số thôn ấp vùng biên giới mà họ đã lấn chiếm của ta, nhưng chưa được nhiều.

Chúa Trịnh Căn gặp nhiều trắc trở trong việc lập người kế nghiệp. Năm Giáp Tí (1684), Trịnh Căn phong cho con thứ là Trịnh Bách làm Tiết chế thay cho con cả là Vĩnh đã chết, nhưng đến năm Đinh Mão (1687), Trịnh Bách lại chết sớm. Trịnh Căn lại phong cho Trịnh Bính là cháu nội đích tôn (con Trịnh Vĩnh) nối ngôi, nhưng đến năm Quí Mùi (1703), Trịnh Bính cũng chết, Trịnh Căn lại phải phong cho chắt nội (con cả Trịnh Bính) là Trịnh Cương lên làm Tiết chế An Quốc Công.

Năm Kỷ Sửu (1709), Trịnh Căn mất. Chắt là Trịnh Cương lên nối ngôi. Trịnh Căn thọ 77 tuổi ở ngôi chúa 27 năm.

6. An Đô Vương (Trịnh Cương) (1709-1729):

Trịnh Cương lên ngôi chúa, được phong là Nguyên soái tổng quốc chính An Đô Vương năm 1709.

Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1714), Trịnh Cương lại được tiến phong Đại nguyên soái tổng quốc chính Thượng sư An Đô Vương.

Trịnh Cương biết giữ mối quan hệ tốt với vua Lê, đồng thời chăm lo việc trị nước. Chúa trọng dụng ba đại thần rất trẻ nhưng có tài là Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Cơ và Nguyễn Công Hãng. Họ đã đưa ra chủ trương cải cách trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, tài chính, thi cử, tổ chức hành chính.. . nhưng các cải cách tiến bộ đó đang được tiến hành thì Trịnh Cương mất.

Năm Kỷ Dậu (1729), Trịnh Cương đi vãng cảnh chùa Phật Tích rồi Như Kinh, bị bệnh, chết ngay tại đó, quan quân bí mật đưa về phủ Chúa phát tang. Tiếc thay vị chúa có nhiều tâm huyết với công cuộc cải cách kinh tế, chính trị đã mất ở tuổi 44, ở ngôi chúa 20 năm.

7. Uy Nam Vương (Trịnh Giang) (1729-1740):

Trịnh Giang là con cả Trịnh Cương. Khi Giang còn làm Thế tử, bảo phó của Giang là Nguyễn Công Hãng đã dâng một số nhận xét rằng: Giang là người ươn hèn không thể gánh vác được ngôi chúa. Trịnh Cương đã có ý thay ngôi Thế tử, nhưng chưa dứt khoát thì Trịnh Cương đột ngột mất, Trịnh Giang với tư cách là Thế tử lên nối ngôi chúa.

Tháng 4 năm Canh Tuất (1739) Giang tự tiến phong là Nguyên soái thống quốc chính Uy Nam Vương.

Chúa Trịnh Giang là kẻ vô cùng bạo ngược: sát hại công thần, giết vua Lê Duy Phường, lập vua Lê Ý Tông. Trịnh Giang ngày càng lấn át quyền vua, Trịnh Giang tha hồ ăn chơi trác táng. Một hôm, Trịnh Giang bị sét đánh gần chết nên mắc bệnh kinh hãi, sợ sấm sét. Bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ cho đào đất làm Cung Thưởng Trì dưới hầm cho Trịnh Giang ở. Bọn hoạn quan tha hồ lũng đoạn triều chính. Các quan đại thần kế tiếp nhau bị giết hại, thuế khóa nặng nề, lòng dân ly tán. Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổ ra khắp nơi.

Trước tình hình nguy ngập đó, Trịnh Thái Phi (mẹ Trịnh Giang và Trịnh Doanh) cho triệu quần thần đến đưa Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang để trừ họa nạn.

8. Minh Đô Vương (Trịnh Doanh) (1740-1767):

Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh lên ngôi chúa lấy hiệu là Minh Đô Vương tiến tôn Trịnh Giang làm Thái Thượng Vương. Trịnh Doanh liền ban hành nhiều quyết định hợp lòng người, được quần thần và dân chúng ủng hộ. Chính sách cai trị dưới thời Trịnh Doanh khá chắc chắn và hoàn chỉnh. Nhiều sắc chỉ được ban hành dưới thời Trịnh Cương (đã bị Trịnh Giang bỏ) nay được thực hiện.

Trịnh Doanh chăm lo chính sự. Cho đặt ống đồng ở cửa phủ để nhận thư từ dân chúng tố giác việc làm sai trái của quan lại: Khi cần tuyển chọn và cất nhắc quan lại, Trịnh Doanh coi trọng thực tài nên trước khi bổ nhiệm ai người đó phải vào phủ đường yết kiến để chúa trực tiếp hỏi về việc là làm ai có khả năng mới trao cho chức quyền. Chúa thưởng phạt rất công minh. Nhiều danh sĩ xuất thân khoa bảng được trọng dụng, tiêu biểu là Lê Quí Đôn, Ngô Thì Sĩ...

Lịch sử đã ghi nhận những năm Trịnh Doanh cầm quyền ở Bắc Hà là thời kỳ đất nước ổn định và thịnh đạt.

Song, khi mới lên ngôi chúa, để dẹp loạn bằng mọi giá Trịnh Doanh đă mắc một sai lầm không thể tha thứ là đốt hết sổ sách thư từ, thu nhặt hết chuông khánh các chùa chiền để đúc binh khí.

Tháng Giêng năm Đinh Hợi (1767). Trịnh Doanh mất thọ 48 tuổi, ở ngôi chúa 27 năm.

9. Tĩnh Đô Vương (Trịnh Sâm) (1767-1782):

Trịnh Sâm là con trưởng của Trịnh Doanh. Năm Ất Sửu (1745) Trịnh Sâm được lập làm Thế tử. Trịnh Doanh cử hai tiến sĩ danh tiếng là Dương Công Chú và Nguyễn Hoàn làm tư giảng cho Trịnh Sâm.

Năm Đinh Hợi (1767), Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi chúa, tiến phong là Nguyên soái Tổng quốc chính Tĩnh Đô Vương...

Trịnh Sâm là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán. Khi lên ngôi chúa, Trịnh Sâm cho sửa đổi kỷ cương, chính sự cả nước vì cho rằng phép tắc của triều đình trước là nhỏ hẹp, nay Sâm muốn làm to rộng hơn, nên phần nhiều tự quyết đoán, không theo phép cũ.

Năm Kỷ Sửu (1769), sau hai năm lên ngôi vì ghen ghét tài năng, đức độ và địa vị của Thái tử Duy Vĩ, Sâm đã vu tội cho Thái tử, sai người bắt giữ, truất ngôi và tống giam, chết trong ngục.

Năm Canh Mão (1770), sau khi đánh tan Lê Duy Mật, buộc Duy Mật tự tử, Trịnh Sâm kiêu mãn, cho mình có công lớn nên tự tiến phong là Đại nguyên soái tổng quốc chính, Thượng sư thượng phụ, Duệ đoán văn công võ đức Tĩnh Vương.

Năm Giáp Ngọ (1774), để khuếch trương thanh thế, Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc làm thống tướng đem quân vào Nam đánh chúa Nguyễn, tháng 10 năm đó, Trịnh Sâm đích thân cầm quân kéo vào Thuận Hóa, chiếm được Thuận Hóa và đặt quan cai trị đất Thuận Quảng, trong đó có Lê Qúy Đôn, tác giả sách ''Phủ biên tạp lục".

Trịnh Sâm sau khi đã dẹp yên các cuộc khởi nghĩa, bốn phương yên ổn, kho đụn đầy đủ, dần dần sinh bụng kiêu căng: xa xỉ, kén nhiều thần phi, thị nữ, mặc ý vui chơi thỏa thích.

Đặng Thi Huệ là nữ tỳ của tiệp dư Trần Thị Vinh, ả mắt phượng mày ngài, vẻ người rất xinh đẹp và hấp dẫn. Trịnh Sâm trông thấy đem lòng yêu mến đặc biệt. Đặng Thị Huệ được sống với chúa như vợ chồng. Xe kiệu quần áo của ả đều được sắm sửa như của chúa.

Để chiều lòng người đẹp, mỗi năm cứ đến tết Trung Thu là cho tổ chức đêm ''Hội Long Trì", treo hàng ngàn chiếc đèn lồng, trông xa tựa hàng vạn ngôi sao sáng để vui chơi thỏa thích.

Chúa Trịnh Sâm còn gả con gái yêu cho em trai Đặng Thị Huệ là Đặng Mậu Lân, một tên du côn ỷ quyền thế chuyên cướp bóc, cưỡng hiếp phụ nữ giữa phố phường.

Đặng Thị Huệ còn liên kết với Huy quận công Hoàng Đình Bảo gạt bỏ Thế tử Trịnh Khải (con cả của Trịnh Sâm) lập Trịnh Cán (con của Thị Huệ) làm Thế tử mới 5 tuổi.

Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất, thọ 44 tuổi, ở ngôi chúa 15 năm.

10. Điện Đô Vương (Trịnh Cán) (1782) (2 tháng):

Trịnh Sâm mất, Đặng Thị Huệ và Huy quận công Hoàng Đình Bảo lập Trịnh Cán lên ngôi chúa với tước hiệu Điện Đô Vương, lúc đó Cán mới 6 tuổi. Tuyên phi Đặng Thị Huệ nghiễm nhiên trở thành người điều khiển triều chính giúp con. Lòng người lo sợ, từ phủ chúa ra kinh thành, thôn dã, chắc hoạ loạn sắp xảy ra.

Tháng 10 năm Nhâm Dần (1782), Dự Vũ, tay chân của Trịnh Khải xúi kiêu binh (lính Tam phủ) nổi loạn, truất ngôi của Cán, giáng xuống Cung quốc công, giết chết Hoàng Đình Bảo, Đặng Thị Huệ bị truất xuống thứ dân, sau tự tử chết. Trịnh Cán bị đưa ra ở phủ Lượng Quốc, ốm chết, ở ngôi được gần hai tháng.

11. Đoan Nam Vương (Trịnh Khải) (1782-1786):

Trịnh Khải có tên khác là Trịnh Tông.

Lính Tam phủ nổi loạn, lật đổ Trịnh Cán đưa Trịnh Khải lên ngôi chúa, tiến phong là Đoan Nam Vương.

Tháng 6 nǎm Bính Ngọ (1786), đang lúc phủ chúa rối ren, khốn khổ vì nạn kiêu binh hoành hành khắp kinh kỳ, dân chúng ngày đêm nơm nớp lo sợ thì nghĩa quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh" kéo ra Bắc Hà.

Quân Trịnh chống cự yếu ớt, mau chóng tan rã, bỏ chạy. Tướng Hoàng Phùng Cơ, Nguyễn Lệ rút chạy lên phía Bắc, Trịnh Khải mặc nhung phục, cưỡi voi, cầm cờ lệnh chỉ huy, nhưng quân sĩ đã bỏ chạy hết, Trịnh Khải phải một mình bỏ chạy lên Sơn Tây.

Trịnh Khải bị Nguyễn Trang bắt giải về nộp cho quân Tây Sơn, trên đường giải về Trịnh Khải dùng dao tự tử.

Trịnh Khải làm chúa chưa được 4 nǎm thì chết, lúc đó mới 24 tuổi.

12. Án Đô Vương (Trịnh Bồng) (1786-1787):

Trịnh Bồng là con Trịnh Giang, bác ruột của Trịnh Khải, Trịnh Bồng đã được phong là Côn quận công. Khi Trịnh Khải bỏ trốn lên Sơn Tây, Trịnh Bồng lánh nạn ở huyện Vǎn Giang (Hưng Yên).

Khi Nguyễn Huệ và Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rút về Nam Hà, Trịnh Bồng đã về yết kiến vua Lê, được vua Lê phong cho làm Nguyên soái, Tổng quốc chính, Án Đô Vương.

Trịnh Bồng nhu nhược, lười biếng, không điều khiển công việc, do đó chính sự lại vào tay Đinh Tích Nhưỡng, chúng lấn át vua Lê, từ đó vua và chúa lại càng mâu thuẫn. Vua Lê đã vời Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An đem quân về giúp.

Trịnh Bồng trốn chạy về xã Dương Xá rồi Quế Võ (Bắc Ninh), Trịnh Bồng đi Hải Dương - Quảng Yên và Thái Bình mộ quân lương mưu đánh lại Nguyễn Hữu Chỉnh, nhưng đánh mấy trận đều thất bại.

Nǎm 1788, Trịnh Bồng sau nhiều lần thất bại, đã bỏ đi tu ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng.

Như vậy, họ Trịnh từ Thái Vương Trịnh Kiểm nắm quyền đến Án Đô Vương Trịnh Bồng (1545-1787) trải qua 12 đời chúa với 242 nǎm trị vì.

 

B. CÁC CHÚA NGUYỄN Ở ĐÀNG TRONG

1. Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) (1558-1613):

Nguyễn Kim tên húy là Cam, quê ở Gia Miêu, Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa, là con của Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu đã từng giúp Vua Lê Tương Dực khởi binh ở Thanh Hóa lật đổ Lê Uy Mục, nhân đó được phong là Thái phó Trừng Quốc Công.

Mạc Đǎng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim lánh sang Ai Lao, thu nạp hào kiệt, phò giúp nhà Lê Trung Hưng, được vua Lê Trang Tông phong là Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công. Nǎm Canh Tý (l540) Nguyễn Kim đem quân về chiếm Nghệ An, nǎm l542 chiếm được Tây Đô (Thanh Hóa), nǎm Ất Tị (1545), Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 75 tuổi, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm.

Khi Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới 2 tuổi, được Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột nuôi dạy nên người.

Trịnh Kiểm là anh rể, muốn thâu tóm quyền hành nên đã ngấm ngầm ám hại các em vợ. Nguyễn Uông, con trưởng của Nguyễn Kim đã bị hãm hại. Nguyễn Hoàng rất lo sợ, đã sai người đến yết kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin mách cho kế an toàn, Trạng Trình đã ứng khẩu câu thơ: ''Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân!'' (một dãy núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).

Nguyễn Hoàng nghĩ ra, đến nói với chị gái là Ngọc Bảo xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá là nơi hoang vu nhiều giặc dã, Trịnh Kiểm đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá

Nǎm Mậu Ngọ (1558), Trịnh Kiểm tâu với Vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá.

Được lệnh vào Nam, bất chấp mùa đông giá rét, Nguyễn Hoàng giong buồm đi ngay, những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng quân lính ở đất Thanh - Nghệ nhiều người đưa cả vợ con đi theo có đến nghìn người. Các danh thần cùng đi có Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống...

Vào Nam, đoàn người của Nguyễn Hoàng đổ bộ lên cảng Cửa Việt, dựng dinh thự ở Ái Tử thuộc huyện Đǎng Xương, Quảng Trị.

Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tâm đến dân tình, hết lòng thu dung hào kiệt, ông giảm sưu, hạ thuế khiến lòng người ai cũng mến phục. Nhân dân xưng tụng ông là Chúa Tiên.

Để tránh sự nghi kỵ của chúa Trịnh, nǎm 1569, ông ra chầu vua Lê ở An Trường, được Vua Lê, chúa Trịnh khen ngợi. Nǎm 1570, Nguyễn Hoàng được giao trấn thủ luôn đất Quảng Nam với ấn Tổng trấn, ông dời dinh vào làng Trà Bát (tức Cát Dinh) cũng thuộc huyện Đǎng Xương.

Nǎm 1572, tướng Lập Bạo của nhà Mạc, theo đường biển, đem quân vào đóng ở hai làng Hồ Xá và Lang Uyển (Quảng Trị) định phá sự nghiệp ở Thuận Hóa của Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng đã dùng kế mỹ nhân phá được kế hoạch của Lập Bạo và đánh tan được quân nhà Mạc.

Nǎm 1593, Nguyễn Hoàng đem quân ra Đông Đô giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng họ Mạc. Vì lập được nhiều chiến công, ông được Vua Lê tấn phong làm Trung quân Đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự Thái uý Đoan Quốc Công. Để tránh Trịnh Tùng hãm hại, nǎm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng lấy cớ đem quân đi dẹp cuộc nổi loạn ở Nam Định, sau đó Nguyễn Hoàng cùng các tướng tâm phúc ra biển giong thẳng vào đất Thuận - Quảng, để con trai thứ 5 là Hải và cháu Hắc ở lại làm con tin. Vua Lê sai sứ giả vào phủ dụ và vẫn để Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận - Quảng.

Tháng 10 nǎm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng). Có thể nói từ nǎm 1600, Nguyễn Hoàng bắt đầu xây dựng giang sơn riêng cho họ Nguyễn ở Đàng Trong.

Thuận - Quảng vốn là đất cũ của người Chiêm chịu ảnh hưởng vǎn hóa Chǎm-pa, Chúa Tiên đã dùng Phật giáo để thuần hoá nhân dân. Ông sửa sang và xây dựng nhiều ngôi chùa.

Đặc biệt, nǎm 1601 ông cho xây dựng chùa Thiên Mụ là công việc to lớn có giá trị nhất. Ngôi chùa lịch sử này có quan hệ mật thiết với quá trình phát triển đất Thuận Hoá và triều Nguyễn ở Việt Nam.

Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28-8-1525), mất ngày 3 tháng 6 năm Quý Sỉu (20-7-1613) thọ 89 tuổi, trấn thủ Thuận - Quảng 55 nǎm (1558-1613). Ông sinh 10 con trai và 2 con gái. Sau triều Nguyễn truy tôn là Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế.

2. Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) (1613-1635):

Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn dò: “Đất Thuận - Quảng này phía bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía nam thì có núi Hải Vân và núi Bi Sơn thật là nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy con phải thương yêu nhân dân, luyện tập binh sĩ mới gây dựng cơ nghiệp muôn đời”.

Nguyễn Phúc Nguyên khóc và bái tạ lãnh mạng. Vua Lê sai sứ giả vào viếng và truy tặng Nguyễn Hoàng là Cẩn Nghi công, vẫn cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ Thuận - Quảng với hàm Thái bảo, tước Thuỵ quận công. Nguyễn Phúc Nguyên xưng là Sãi vương và cho rời cung phủ về xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, ngày đêm lo việc chính sự, thu dụng nhân tài. Quan khám lý Trần Đức Hoà tiến cử Đào Duy Từ cho chúa Nguyễn, chúa mừng lắm phong cho Đào Duy Từ tước Lộc Kê hầu, chức Nha uý nội tán. Đào Duy Từ giúp chúa Nguyễn đắp luỹ Trường Dục, luỹ Thầy để phòng ngự, chống nhau với quân Trịnh, Đào Duy Từ còn bày kế sách cho chúa Nguyễn trả lại sắc phong của vua Lê, không chịu nộp thuế cống cho chúa Trịnh. Chuyện kể rằng nǎm Đinh Mão (1627), Trịnh Tráng sai sứ mang sắc Vua Lê dụ chúa Sãi cho con vào chầu và nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa cống nhà Minh.

Nhận được sắc Vua, chúa Sãi họp triều thần hỏi mưu kế. Đào Duy Từ dâng kế, cho người làm một cái mâm hai đáy, trên sắp đầy sản vật, giữa để sắc thư, rồi cử Lại Vǎn Khuông làm chánh sứ đem phẩm vật ra tạ ơn chúa Trịnh.

Nhờ đã được chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Vǎn Khuông ứng đối khá trôi chảy. Chúa hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn đi thǎm kinh thành để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Sau khi đọc cẩm nang, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn đột ngột trốn về, chúa Trịnh nghi hoặc, bèn cho người đập vỡ mâm mới thấy tờ sắc trước, và một bài thơ, mỗi câu bốn chữ như sau:

Mâu nhi địch

Mịch phi kiến tích

Ái lạc tâm trường

Lực lai tương địch

Cả triều thần không ai hiểu ý nghĩa. Trịnh Tráng phải mời một nhà nho uyên bác giải mã... Đọc xong nhà nho giải thích: “Đấy là lối chơi chữ của Đào Duy Từ, chữ mâu không có dấu phẩy là chữ dư; chữ mịch không thấy chữ kiến thì còn chữ bất; chữ ái rơi chữ tâm thành chữ thụ; chữ lực cùng đối địch với chữ lai thành chữ sắc. Vậy ý nghĩa của bài thơ 4 câu trên là “Dư bất thụ sắc” tức là “Ta không nhận sắc”.

Nghe xong, Trịnh Tráng vội cho người tìm bắt Lại Vǎn Khuông, nhưng Khuông đã cao chạy xa bay rồi. Tráng muốn phát binh vào đánh chúa Nguyễn, nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc, đành phải hoãn lại chưa đi hỏi tội chúa Nguyễn.

Đào Duy Từ còn tiến cử cho chúa Nguyễn một viên tướng tài ba, mưu lược là Nguyễn Hữu Tiến, quân lực của Chúa Nguyễn từ đó ngày thêm mạnh. Đào Duy Từ chỉ giúp chúa Nguyễn 8 nǎm mà cơ nghiệp chúa Nguyễn thay đổi hẳn về chất, đất Đàng Trong trở nên có vǎn hiến và quy củ hơn trước nhiều.

Đối với lân bang, chúa Sãi chủ trương thân thiện với Chiêm Thành và Chân Lạp. Nǎm 1620, chúa gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey - Chetta (1618-1686) để tạo thuận lợi cho dân chúng vào khai khẩn đất hoang ở thuỷ Chân Lạp. Nǎm 1631, chúa Sãi lại gả công nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Pôrômê để củng cố nền hoà hiếu một thời gian khá dài giữa hai nước Chiêm - Việt.

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Hợi (16-8-1563), mất ngày 10 tháng 10 năm Ất Hợi (19-11-1635), thọ 73 tuổi, ở ngôi Chúa 22 nǎm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Hy Tông Hiếu Vǎn Hoàng đế, Chúa Sãi có 15 người con (11 con trai và 4 con gái).

3. Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng) (1635-1648):

Nguyễn Phúc Nguyên có 11 con trai. Nguyễn Phúc Lan là con trai thứ hai được truyền ngôi chúa.

Năm Ất Hợi (1635) chúa Sãi mất, Nguyễn Phúc Lan lên ngôi chúa gọi là Chúa Thượng.

Nghe tin Phúc Lan nối nghiệp, hoàng tử thứ ba là Nguyễn Phúc Anh đang trấn giữ Quảng Nam âm mưu phản nghịch, liên kết với chúa Trịnh đem quân vào đánh miền Nam. Phúc Anh sai đắp luỹ Câu Ðê làm kế cố thủ. Phúc Lan đánh bắt được, không nỡ giết người ruột thịt, nhưng tướng sĩ và ông chú là Trường quận công Nguyễn Phúc Khê đều xin giết để trừ hậu hoạ.

Chúa dù đau xót cũng phải nghe theo.

Năm Kỷ Mão (1639), Tống Thị (vợ goá của Phúc Kỳ) dâng cho chúa chuỗi hoa vòng ngọc liên châu rất đẹp. Chúa cầm lên ngửi thấy mùi hương thơm ngát, xúc động lòng yêu. Tống Thị lại vào sụp lạy dưới thềm, thưa trình về tình cảnh goá bụa thảm thiết, nhan sắc lại cực kỳ diễm lệ. Chúa Thượng nổi tình riêng, sau đó mời nàng vào nội thất chung chăn gối.

Từ đó chúa rất mực sủng ái Tống Thị. Nàng trình bẩm việc gì Chúa cũng nghe theo. Tống Thị lựa lời khéo léo để Chúa vui lòng, nghĩ cách chiếm đoạt của cải của dân để làm giàu riêng. Các quan đại thần căm ghét Tống Thị, tìm cách can gián nhưng Chúa không nghe. Cho hay, nhan sắc, gái đẹp có mãnh lực vô biên, làm lung lạc cả đấng quân vương.

Làm chúa được 9 năm, vị chúa đa tình này lập được chiến công vang dội. Lần đầu tiên trong lịch sử thuỷ chiến, thuỷ quân Việt Nam đã đánh thắng thủy quân Âu châu.

Ðó là năm 1644, Hà Lan theo yêu cầu của Chúa Trịnh đã cho 3 chiếc tàu đồng kiểu tròn, trang bị nhiều trọng pháo tiến vào cửa Eo Thuận An mưu đồ xâm lược nước ta.

Chúa Thượng họp quần thần bàn định có nên đưa chiến thuyền của mình ra đánh tàu Hoà Lan hay không. Các quần thần không dám hứa là chắc thắng. Chúa hỏi một người Hoà Lan đang giúp việc cho chúa, người ấy tự phụ trả lời:

- Tầu Hoà Lan chỉ sợ mãnh lực và quân đội của trời thôi. Nghe vậy, chúa cảm thấy bị xúc phạm. Ông thân hành đến Eo, ra lệnh cho thuỷ quân chèo thuyền ra đánh thẳng vào 3 chiếc tàu của Hà Lan.

Hàng trăm chiến thuyền Việt Nam xông thẳng vào các tàu Hoà Lan, mặc đại bác bắn ra như mưa. Bốn mặt tàu Hoà Lan đều bị tấn công. Nhờ thuyền nhỏ cơ động, nhanh nhẹn nên mặc dù bị một số đạn, thuyền Việt Nam vẫn bao vây tấn công vào tàu Hoà Lan quyết liệt. Chúng vô cùng kinh hoàng, không ngờ thủy quân chúa Nguyễn lại gan dạ đến thế. Chiếc nhỏ nhất vội luồn lách chạy thoát thân. Chiếc thứ hai thảng thốt đâm vào đá, cả đoàn thuỷ thủ và tàu chìm nghỉm xuống biển. Chiếc thứ ba lớn nhất chống cự lại, các thuỷ quân chúa Nguyễn bám sát tàu bẻ bánh lái. Một số nhảy lên tàu, chặt gẫy cột buồm. Bị dồn vào thế tuyệt vọng, thuyền trưởng Hoà Lan cho nổ kho thuốc súng. Thế là tất cả thủy thủ bị hoả thiêu chết la liệt trên biển. Có 7 tên trên tàu nhảy xuống biển, cố bơi thoát nhưng đều bị tóm cổ.

Thắng trận trở về, Chúa Thượng dẫn 7 tên tù binh đến trước mặt người Hà Lan nói:

- Cần chi mãnh lực và quân đội của trời mới phá được. Chiến thuyền của ta cũng khá đấy chứ?

Năm 1648, Trịnh Tráng cho các đạo quân thuỷ bộ đánh vào miền Nam. Bộ binh đóng ở đất Nam Bố Chính; còn thuỷ quân thì đánh vào cửa Nhật Lệ. Nguyễn Phúc Lan phải tự cầm quân đánh lại. Sau Phúc Lan thấy người không được khoẻ, mới trao binh quyền cho con trai là Nguyễn Phúc Tần và tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ huy còn mình thì rút về đến phá Tam Giang thì mất, thọ 48 tuổi, ở ngôi chúa 13 năm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng đế.

Chúa Nguyễn Phúc Lan sinh ngày 16 tháng 7 năm Tân Sửu (13-8-1601), mất ngày 26 tháng 02 năm Mậu Tý (19-3-1648), thọ 48 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Lan có 4 người con (3 con trai, 1 con gái).

4. Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) (1648-1687):

Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thìn (1620). Lúc đầu được phong Phó tướng Dũng Lễ hầu, đã từng đánh giặc ở cửa biển, được chúa Phúc Lan rất khen ngợi. Năm Mậu Tý (1648) được tấn phong là Tiết chế chủ quân, thay Phúc Lan phá quân Trịnh ở sông Gianh, bấy giờ 29 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Lan mất đột ngột, bày tôi tôn Nguyễn Phúc Tần lên ngôi chúa, gọi là chúa Hiền. Chúa Nguyễn Phúc Tần là người chăm chỉ chính sự, không chuộng yến tiệc vui chơi.

Phúc Tần biết tận dụng hai tướng tài giỏi là Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến. Quân Chúa Nguyễn nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đất Đàng Ngoài. Năm 1656, sau hai năm tấn công ta Bắc, quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện của Nghệ An. Tự thân Nguyễn Phúc Tần đã đem quân ra đến Nghệ An, đóng tại xã Vân Cát, quân Nguyễn có thể tiến sâu thêm nữa, nhưng nghe tin Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên ngôi chúa đang chịu tang, chúa Nguyễn cho người sang điếu, rồi rút quân về, lưu các tướng đóng đồn từ sông Lam trở về Nam, đắp luỹ từ núi đến cửa biển để phòng ngự. Sau đợt tấn công đó, quân Nguyễn còn chiếm  đất Nghệ An thêm 5 lần nữa, năm 1660 chúa Trịnh mới khôi phục lại được. Từ đó Trịnh - Nguyễn cầm cự nhau suốt mấy chục năm không phân thắng bại.

Năm Kỷ Mùi (1679), chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch, một tướng cũ của triều Minh cùng với Trần Thượng Xuyên… đem gia thuộc hơn 3000 người và hơn 50 chiến thuyền đến khai phá vùng đất Gia Định - Mỹ Tho. Từ đó phố xá, chợ búa mọc lên sầm uất, thuyền buôn của các nước Thanh, Nhật Bản và các nước phương Tây ra vào tấp nập, do đó phong hoá ngày càng mở mang.

Dưới thời Chúa Hiền, nhiều kênh dẫn nước tưới ruộng được khơi đào, như Trung Đàn, Mai Xá. Bấy giờ bờ cõi được thái bình, thóc lúa được mùa. Chúa càng chăm lo chính sự, không xây đền đài, không gần gái đẹp, bớt lao dịch thuế khoá, nhân dân đều khen ngợi thời thái bình thịnh trị.

Chúa Nguyễn Phúc Tần sinh ngày 19 tháng 6 năm Canh Thân (18-7-1620), mất ngày 19 tháng 3 năm Đinh Mão (30-4-1687), thọ 68 tuổi, ở ngôi chúa 39 năm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế. Chúa Hiền có 9 người con (6 con trai, 3 con gái).

5. Nguyễn Phúc Thái (Chúa Nghĩa) (1687-1691):

Nguyễn Phúc Tần có 6 người con trai, Nguyễn Phúc Thái là con thứ hai của bà vợ thứ hai người họ Tống, nhưng lớn tuổi và hiền đức. Khi Nguyễn Phúc Tần mất, Thái đã 39  tuổi.

Nguyễn Phúc Thái nổi tiếng là người rộng rãi, hình phạt và phu thuế đã nhẹ, trăm họ ai cũng vui mừng, quan lại cũ của triều trước đều được trọng đãi.

Người đời sau nhắc đến Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái là vì tháng 7 năm Đinh Mão (1687), đã cho dời phủ Chúa từ Kim Long về Phú Xuân, lấy Bằng Sơn (nay là Ngự Bình) làm bình phong, xây đắp cung điện, thành quách rất tráng lệ, vì Phú Xuân địa thế bằng phẳng, đẹp đẽ, rộng rãi, bề thế lại có sông Hương chảy ngang qua trước kinh thành và đã trở thành cố đô Huế ngày nay.

Chúa Nghĩa sinh ngày 21 tháng Chạp năm Kỷ Sửu (22-01-1650), sau 4 năm ở ngôi chúa, ngày 10 tháng Giêng năm Tân Mùi (07-02-1691), mất, thọ 43 tuổi. Sau triều Nguyễn truy tôn là Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng đế. Chúa Nghĩa có 9 người con (5 con trai, 4 con gái).

6. Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa) (1691-1725):

Nguyễn Phúc Chu là con cả Nguyễn Phúc Thái, sinh nǎm Ất Mão (11-6-1675), được nuôi cho ǎn học khá cẩn thận vì thế vǎn hay chữ tốt, đủ tài lược vǎn võ. Khi nối ngôi Chúa mới 17 tuổi.

Chúa Nguyễn Phúc Chu là chúa mộ đạo Phật. Nǎm 1710, chúa sai đúc chuông lớn nặng tới 3.285 cân, đặt ở chùa Thiên Mụ và xây dựng một loạt chùa miếu khác.

Chúa cho mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa núi Mỹ Am. Tự chúa cũng ǎn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời. Chúa phát tiền gạo cho người nghèo. Đây là thời kỳ mà chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã tạm ngừng hơn 30 nǎm, đất nước bình yên. Chúa Nguyễn Phúc Chu có điều kiện mở mang đất đai về phía Nam và đạt được những thành tựu đáng kể: Năm Mậu Dần (1698), Chúa sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược đất Chân Lạp. Đặt phủ Bình Thuận gồm đất Phan Rang, Phan Rí, chia làm hai huyện An Phúc và Hoà Đa, bắt đầu đặt phủ Gia Định; chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà) lấy xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình… dựng dinh Phiên Trấn, lập xã Minh Hương... Từ đó người Thanh đi lại buôn bán rất sầm uất.

Nǎm 1702, Công ty Ấn Độ của Anh do Ailen Catohpole, đem 200 quân đến chiếm đảo Côn Lôn. Chúa lập tức sai Chưởng dinh Trấn biên Trương Phúc Phan dùng mưu đánh đuổi ra khỏi đảo.

Nǎm 1708, Chúa dùng Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên.

Nǎm 1709, Chúa cho đúc ấn Quốc Bửu "Đại Việt Quốc, Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn chi bửu" ấn này về sau trở thành vật báu truyền ngôi.

Nǎm 1714, Chúa cho đại trùng tu chùa Thiên Mụ và đi thǎm phố Hội An. Nhân thấy cầu do người Nhật làm tụ tập nhiều thuyền buôn các nước, Chúa bèn đặt là Lai Viễn Kiều và ban biển chữ vàng ngày nay vẫn còn biển đó.

Chúa Nguyễn Phúc Chu sinh ngày 18 tháng 5 năm Ất Mão (11-6-1675), mất ngày 21 tháng 4 năm Ất Tỵ (01-6-1725), ở ngôi chúa 34 nǎm, thọ 51 tuổi. Sau triều Nguyễn truy tôn là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế. Chúa có 42 người con (38 con trai và 4 con gái).

7. Nguyễn Phúc Thụ (Ninh Vương) (1725-1738):

Nguyễn Phúc Thụ (nhiều sách viết là Chú) sinh ngày 22 tháng Chạp năm Bính Tý (14-1-1697), là con trai cả của Quốc Chúa, khi Quốc chúa mất được lên ngôi Chúa lúc đó đã 30 tuổi, xưng hiệu là Ninh Vương.

Nǎm Quý Sửu (1733), chúa cho đặt đồng hồ mua của Tây phương ở các dinh và các đồn tàu dọc biển. Sau đó người thợ thủ công là Nguyễn Vǎn Tú chế tạo được chiếc đồng hồ y hệt.

Nǎm Bính Thìn (1736), Mạc Cửu mất, con trai là Mạc Thiên Tứ được chúa cho làm Đô đốc trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ là một nhà cai trị giỏi, mà lại vǎn thơ hay. Mạc Thiên Tứ mở Chiêu Anh Các để tụ họp các vǎn nhân thi sĩ cùng nhau xướng hoạ. Mạc Thiên Tứ để lại 10 bài thơ ca ngợi phong cảnh đẹp của Hà Tiên (Hà Tiên thập Vịnh).

Ngày 20 tháng 4 năm Mậu Ngọ (7-6-1738), Ninh Vương mất, thọ 42 tuổi, ở ngôi Chúa 13 nǎm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế. Ninh Vương có 9 người con (3con trai, 6 con gái).

8. Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương) (1738-1765):

Nguyễn Phúc Khoát, sinh ngày 18 tháng 8 nǎm Giáp Ngọ (26-9-1714), là con trưởng của Ninh Vương được lên ngôi Chúa tháng 5 năm Mậu ngọ (1738), lấy hiệu là Từ Tế đạo nhân.

Nǎm Giáp Tý (1744), Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vua, xưng là Võ Vương, cho đúc ấn Quốc Vương, xuống chiếu bố cáo thiên hạ, lấy Phú Xuân làm kinh đô.

Từ nǎm Giáp Tuất (1754), để xứng đáng với kinh đô của Nguyễn Vương, Phú Xuân được xây dựng thêm hàng loạt cung điện theo quy mô đế vương.

Đặc biệt chiếc áo dài Việt Nam tha thướt xinh đẹp như hiện nay, phải trải qua một quá trình phát triển, nó được hình thành từ đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.

Nǎm 1757, Võ Vương đặt Rạch Giá làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long Xuyên.

Ngày 20 tháng 5 năm Ất Dậu (7-7-1765), Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát mất, thọ 52 tuổi, nối ngôi được 27 nǎm.

Sau triều Nguyễn truy tôn là Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế. Võ Vương có 30 người con (18 con trai, 12 con gái).

9. Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương) (1765-1777):

Nguyễn Phúc Thuần sinh ngày 18 tháng 11 năm Giáp Tuất (31-12-1754), là con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát, mẹ là Nguyễn Phúc Ngọc Cầu.

Võ Vương lúc đầu lập con thứ 9 là Phúc Hiệu làm Thái tử, nhưng Hiệu mất sớm, con trai Hiệu là Hoàng tôn Phúc Dương còn thơ ấu mà Hoàng tử cả là Chương cũng đã mất. Hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân cũng rất khôi ngô tuấn tú, theo thứ tự sẽ phải lập Hoàng tôn Dương hoặc Phúc Luân lên ngôi vua nên đã trao Luân cho một thầy học nổi tiếng là Trương Vǎn Hạnh dạy bảo.

Nhưng khi Võ Vương mất, tình hình lại đảo ngược. Quyền thần Trương Phúc Loan không muốn lập Phúc Luân vì Luân đã lớn tuổi, khó bề lộng hành. Trương Phúc Loan lại chọn lập Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi vua.

Phúc Luân không được lập mà còn bị bắt giam. Trương Vǎn Hạnh cũng bị giết chết.

Nguyễn Phúc Thuần còn nhỏ tuổi, mọi quyền hành đều do Trương Phúc Loan sắp đặt. Loan tự phong là Quốc phó. Loan thâu tóm toàn bộ từ chính sự đến kinh tế. Các nguồn lợi chủ yếu của vương quốc Đàng Trong đều rơi vào tay Trương Phúc Loan và họ hàng của hắn.

Ngày nắng, Loan cho đem phơi của cải quý báu làm sáng rực cả góc trời. Có tiền, có quyền, Loan mặc sức hoành hành ngang ngược, người người ai ai cũng đều oán giận.

Nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu ở Quy Nhơn được nhân dân đồng tình ủng hộ ngày càng lớn mạnh. Thêm vào đó, tháng 5 nǎm Giáp Ngọ (1774) Chúa Trịnh lại cho đại quân vào đánh Nguyễn. Cả nghĩa quân Tây Sơn lẫn quân Trịnh đều nêu khẩu hiệu : "Trừ khử quyền thần Trương Phúc Loan và tôn phò Hoàng tôn Dương". Chiến tranh loạn lạc lại nổ ra, đất Thuận Hoá trước trù phú là thế mà nay trǎm bề xơ xác tiêu điều, người chết đói đầy đường.

Trước tình cảnh đó, không có cách nào khác, tôn thất nhà Nguyễn cùng nhau lập tức bắt trói Trương Phúc Loan nộp cho quân Trịnh. Tháng 12 nǎm 1774, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và đặt quan cai trị Thuận Hoá. Trong số quan lại nhà Trịnh cử vào trấn thủ Thuận Hoá có Lê Quý Đôn (1776).

Nghĩa quân Tây Sơn tìm cách hoà hoãn với quân Trịnh để yên mặt Bắc và rảnh tay đánh Nguyễn ở phía Nam.

Đại quân Tây Sơn cả thuỷ lẫn bộ đánh vào Gia Định. Chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy về Định Tường rồi lại chạy sang Long Xuyên. Tháng 9 nǎm Đinh Dậu (1777), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đánh chiếm Long Xuyên, chúa Nguyễn bị chết trận.

Như vậy, Nguyễn Phúc Thuần ở ngôi chúa được 12 nǎm, thọ 24 tuổi không có con nối. Sau triều Nguyễn truy tôn là Duệ Tông Hiếu Định Hoàng đế. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần chết, kết thúc giai đoạn lịch sử của 9 chúa Nguyễn Đàng Trong.

 

XXI. NHÀ TÂY SƠN (1778-1802)

24 NĂM, KINH ĐÔ PHÚ XUÂN (HUẾ)

1. Thái Đức Hoàng Đế (1778-1793):

Niên hiệu: Thái Đức (1778-1793)

Anh em Tây Sơn vốn người họ Hồ, hậu duệ của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật (Thế kỷ X). Ông tổ của Tây Sơn ở huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, khoảng nǎm (1653-1657) bị quân của Chúa Nguyễn đánh ra Đàng Ngoài, bắt đem về cho ở ấp Tây Sơn (nay là An Khê, Hoài Nhân, Bình Định), từ đó đổi thành họ Nguyễn.

Ông Nguyễn Phi Phúc lấy bà Nguyễn Thị Đồng sinh ba con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ.

Gia đình ông Phúc làm nghề buôn trầu cau, cuộc sống cũng khá giả. Anh em Nguyễn Nhạc theo học giáo Hiến. Giáo Hiến vốn là môn khách của Trương Vǎn Hạnh, ngoại hữu dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777).

Sau Trương Vǎn Hạnh bị Trương Phúc Loan giết, giáo Hiến sợ phải chạy vào ở ẩn tại Quy Nhơn, mở trường dạy học ở ấp Yên Thái.

Lúc đó, quyền thần Trương Phúc Loan tác oai tác quái, lấn lướt nhà Chúa, lòng người ai cũng cǎm ghét.

Hàng ngày anh em Tây Sơn được giáo Hiến dạy cả vǎn lẫn võ, đồng thời khích lệ bởi câu sấm:

"Tây khởi nghĩa, Bắc thu công".

Nǎm Tân Mão (1771), anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu chiến lược: "Lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan, phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương".

Quân Tây Sơn thường lấy của những nhà giàu rồi phân phát cho dân nghèo, do đó nhân dân các nơi theo về rất đông.

Trải qua 8 nǎm chiến đấu gian khổ, nǎm Mậu Tuất (1778), quân Tây Sơn đã diệt được chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

- Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng dế lập nên Triều đại nhà Tây Sơn.

- Đặt niên hiệu là Thái Đức, phong cho Nguyễn Huệ là Long Nhương tướng quân.

Nǎm 1777, Chúa Nguyễn Phúc Thuần và Hoàng tôn Dương đều bị chết trong trận đánh ở Long Xuyên, chỉ còn Nguyễn Ánh chạy thoát ra đảo Thổ Chu, sau chạy sạng Xiêm ẩn náu. Nǎm 1784, Nguyễn Ánh cầu viện vua Xiêm đem quân đánh Tây Sơn, để cứu giúp mình. Cuối tháng 7 năm 1784, hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương được lệnh đem 2 vạn thuỷ quân, 300 chiến thuyền và tướng Chiêu Thuỳ Biên đem 3 vạn bộ binh cùng Nguyễn Ánh, Chu Văn Tiếp đánh về Gia Định. Cho đến cuối năm đó, gần một nửa đất Gia Định đã thuộc về quân Xiêm - Nguyễn Ánh. Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa giữ vững hai thành Gia Định và Mỹ Tho để chờ viện binh.

Kiêu căng với thắng lợi nhanh chóng của mình, quân Xiêm mặc sức cướp phá, đốt nhà cướp của, giết người rất dã man tàn bạo, gây bao tội ác với nhân dân ta.

Nguyễn Huệ được lệnh đem quân vào đánh quân Xiêm - Nguyễn Ánh. Đầu tháng 01 năm 1785, quân Nguyễn Huệ kéo vào đóng ở Mỹ Tho. Quân Xiêm - Nguyễn Ánh đóng ở Sa Đéc, chuẩn bị tấn công Mỹ Tho.

Trận quyết chiến đã diễn ra trên khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, sáng ngày 19-01-1785, Nguyễn Huệ nhử quân địch vào trận địa mai phục sẵn và đánh cho chúng tan tành, chỉ còn vài ngàn quân chạy bộ về nước.

Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất của vị chủ soái Nguyễn Huệ và tinh thần chiến đấu anh dũng của nghĩa quân Tây Sơn.

Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm - Nguyễn Ánh. Nǎm 1786, Hoàng đế Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ đem quân ra hạ thành Thuận Hoá của Chúa Trịnh vào tháng 5 năm 1786. Trên đà thắng lợi đó, với khẩu hiệu "phù Lê diệt Trịnh", quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà theo hai đường thuỷ bộ. Quân Tây Sơn chiếm Vị Hoàng (Nam Định) rồi kéo quân ra Phố Hiến tiến về Thăng Long. Quân Trịnh do Hoàng Phùng Cơ và Trịnh Khải chỉ huy đều bị đánh tan. Trịnh Khải bỏ chạy lên Sơn Tây rồi bị bắt.

Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ kéo đại quân vào Thăng Long. Chính quyền của Chúa Trịnh bị lật đổ. Nguyễn Huệ trao lại quyền hành cho vua Lê Hiển Tông và được vua Lê phong tước Uy quốc công. Vua Lê cũng nhường đất Nghệ An cho Tây Sơn, gọi là để thưởng công.

Nghe tin Nguyễn Huệ chiếm được thành Thǎng Long, Nguyễn Nhạc sợ không kiềm chế được Nguyễn Huệ, đã vội thân hành đem quân bản bộ ra Bắc Hà.

Vua Lê Hiển Tông nghe tin, đem trǎm quân ra ngoài cõi đón Vua Tây Sơn. Nguyễn Huệ ra tận ngoại ô đón anh và tạ tội tự chuyên của mình.

Về đến kinh đô, Nguyễn Huệ đưa công chúa Ngọc Hân ra chào vua anh. Nguyễn Nhạc khen:

- Chà, em vua Tây Sơn làm rể vua nước Nam "môn đương hộ đối" mối nhân duyên thật đẹp!

Sau khi từ Bắc Hà trở về, tháng 4 nǎm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Nhạc chia vùng đất phía Nam ra làm ba:

- Từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

- Đất Gia Định thuộc về Đông Định Vương Nguyễn Lữ.

- Nguyễn Nhạc đóng đô ở Qui Nhơn xưng là Trung ương Hoàng đế.

Nǎm 1793, Nguyễn Nhạc mất, làm vua được 15 nǎm.

2. Hoàng đế Quang Trung (1788-1792):

Niên hiệu: Quang Trung (1788-1792)

Hoàng đế Quang Trung tên huý là Nguyễn Huệ (tức Hồ Thơm), sinh nǎm Quý Dậu (1753). Nguyễn Huệ có nhiều đặc điểm: tóc quǎn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối.

Nguyễn Huệ là trụ cột của nghĩa quân Tây Sơn, đã góp nhiều công lao to lớn, đập tan Chúa Nguyễn Đàng Trong, được vua Tây Sơn phong cho làm Long Nhương Tướng quân và được trao quyền cầm quân đánh Đông dẹp Bắc, là vị tướng hành quân chớp nhoáng, đánh đâu được đấy, bách chiến bách thắng.

Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc Hà lật nhào Chúa Trịnh chuyên quyền, tôn phò nhà Lê.

Sau khi vua Lê Hiển Tông tiếp kiến Nguyễn Huệ ở điện Vạn Thọ, vua Lê phong cho  Nguyễn Huệ làm Nguyên Suý Dực chính phù vận Uy quốc công. Với sự sắp xếp khôn khéo  của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông đã gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.

Tháng 7-1786, một đêm mưa to gió lớn. Kinh đô Thǎng Long ngập hàng thước nước, vua Lê Hiển Tông qua đời, thọ 70 tuổi.

Công chúa Ngọc Hân khi được chồng hỏi nên lập ai lên ngôi báu, đã nghiêng về Lê Duy Cận, nghe lời vợ, Nguyễn Huệ muốn hoãn lễ đǎng quang của Lê Duy Kỳ. Cả triều đình xao xuyến ngờ vực. Các tôn thất nhà Lê cho rằng Ngọc Hân cố tình làm lỡ việc lớn của triều đình và bảo sẽ từ mặt công chúa. Ngọc Hân sợ, vội nói với Nguyễn Huệ thu xếp cho Lê Duy Kỳ lên ngôi vua.

Ít lâu sau, Nguyễn Huệ đem công chúa Ngọc Hân cùng Nguyễn Nhạc rút về Nam.

Quân Tây Sơn rút về, Bắc Hà rối loạn. Nạn đói hoành hành, nhân dân cực khổ vô cùng, vua Lê Chiêu Thống bất lực trong việc chống chọi với chúa Trịnh Bồng nên đã dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại quân của Trịnh, đốt phá phủ Chúa tan tành.

Nguyễn Hữu Chỉnh nhân đó lộng quyền, chống lại Tây Sơn, cho người vào đòi Nghệ An.

Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở và Vũ Văn Nhậm đem quân ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh.

Trước sức tấn công mãnh liệt của quân Tây Sơn, Nguyễn Hữu Chỉnh và Lê Chiêu Thống bỏ chạy lên phía Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh chạy đến Bắc Giang thì bị bắt và bị giết, Lê Chiêu Thống trốn thoát chạy sang đất Quảng Tây.

Được thông báo về sự lộng quyền của Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ lại phải kéo quân ra Bắc Hà dẹp loạn, bắt giết Vũ Văn Nhậm rồi cử Ngô Văn Sở lên thay, đồng thời thu nhận một số quan lại, sĩ phu Bắc Hà như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Vũ Huy Tiến, … giao quyền hành, chức vụ cho họ, thể hiện đúng ý thức trọng dụng nhân tài.

Sau khi đã lập Sùng Nhượng công Lê Duy Cận làm Giám quốc, Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân.

Cuối năm 1788, Lê Chiêu Thống đưa đường cho đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh đô Thăng Long.

Đại tư mã Ngô Văn Sở đã bàn với Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và các mưu thần khác, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn chờ lệnh.

Nghe tin cấp báo, ngay ngày hôm sau, 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22-12-1788), Nguyễn Huệ xuất thân tiến ra Bắc Hà. Chiều ý các tướng và để sáng tỏ danh nghĩa với cả nước, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế niên hiêu Quang Trung.

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26-12-1788), đại binh của Hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, Quang Trung cho dừng quân tại đó hơn 10 ngày, tuyển thêm hàng vạn trai tráng Nghệ An vào nghĩa quân Tây Sơn, nâng quân số lên 10 vạn, với đội tượng binh 200 voi chiến. Nguyễn Huệ chia làm 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu, và trung quân. Những binh sĩ mới tuyển ở Nghệ An, chưa quen chiến trận, chưa được thao luyện được đặt vào đạo trung quân do chính Hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy.

Hoàng đế Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh.

Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung cưỡi voi thúc quân tiến ra Bắc Hà. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15-01-1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp (Ninh Bình).

Trước khi bước vào chiến dịch, vua Quang Trung đã nói với quan quân rằng:

 - Nay ta tới đây, thân đốc việc binh, chiến thư ra sao đã có phương lược sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào cũng quét sạch giặc Thanh. Song ta nghĩ: Nước Thanh lớn hơn nước ta gấp mười lần, Thanh bị thua tất hổ thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài mãi, thật không phải là phúc cho trǎm họ, lòng ta không nỡ! Nên chi, sau khi thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa chiến tranh, việc từ lệnh đó ta giao cho Ngô Thì Nhậm.

Để mở cuộc tổng tiến công vào quân xâm lược Mãn Thanh, vua Quang Trung chia toàn quân làm 5 mũi tiến công.

- Đạo thứ nhất là đạo chủ lực do đích thân vua Quang Trung trực tiếp chỉ huy, có nhiệm vụ đánh thẳng vào các đồn lũy phía Nam Thăng Long.

- Đạo thứ hai do đô đốc Long chỉ huy, có nhiệm vụ đánh vào đồn Khương Thượng - Đống Đa rồi qua cửa Tây Nam thọc sâu vào Thăng Long.

- Đạo thứ ba do đô đốc Bảo chỉ huy, có nhiệm vụ tiến vào Đại Áng (Thường Tín - Hà Tây), chuẩn bị tham gia tiêu diệt đồn Ngọc Hồi.

- Đạo thứ tư do đô đốc Tuyết chỉ huy, có nhiệm vụ vượt biển lên đóng ở Hải Dương để uy hiếp mặt đông của giặc.

- Đạo thứ năm do đại đô đốc Lộc chỉ huy, có nhiệm vụ vượt biển vào sông Lục Đầu sẵn sàng đón đánh tiêu diệt tàn quân cuaả giặc.

Kế hoạch tấn công quân Thanh đã được phổ biến cho các tướng lĩnh chỉ huy. Vua Quang Trung cho mở tiệc khao quân, gọi là ăn tết trước, chờ "đến ngày mồng 7 tháng giêng vào Thăng Long sẽ làm lễ hạ cây nêu, mừng chiến thắng".

Sau lễ khao quân, các đạo quân gấp rút tiến quân ra mặt trận với khí thế quyết chiến, quyết thắng.

Các đồn tiền tiêu của địch như Gián Khẩu, Thanh Quyết, Nhật Tảo lần lượt bị hạ. Không một tên địch nào chạy thoát. Nửa đêm mồng 3 Tết, quân của vua Quang Trung bao vây đồn Hà Hồi (Thường Tín - Hà Tây) cách Thăng Long 20 cây số. Quân Tây Sơn bắc loa gọi hàng, hoảng hốt, bất ngờ khi nghe tiếng loa vọng như sấm dậy, lũ giặc bó tay xin hàng. Đồn Hà Hồi bị diệt gọn.

Ngày mồng 4 Tết, đang ăn uống vui vẻ thì Tôn Sĩ Nghị được tin "đồn Hà Hồi đã bị quân Tây Sơn đánh úp bắt hết rồi", Chúng hoảng sợ nói với nhau: "Thật là tướng ở trên trời xuống, quân ở dưới đất chui lên". Tôn Sĩ Viện lập tức tăng viện cho đồn Ngọc Hồi.

Ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-01-1789) lúc trời còn chưa sáng, đội tượng binh của vua Quang Trung bất thần tiến nhanh về phía đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh lập tức ra lệnh cho đội kỵ binh thiện chiến xông ra nghênh chiến, nhưng vừa thấy voi, đoàn ngựa chiến của địch hoảng loạn rút chạy. Địch bắn ra như mưa: đoàn voi chiến chia thành hai cánh tả, hữu mở đường cho đội xung kích tiến lên, 600 chiến sĩ cảm tử chia thành 20 toán, cứ 10 người, dao ngắn dắt bên hông, cùng nhau khiêng một tấm mộc lớn, bên ngoài quấn rơm ướt xông lên phía trước, phía sau có hai mươi chiến sĩ khác đi theo, kết thành những bức tường di động. Đại bác, cùng nỏ, hỏa mù của địch bắn ra tới tấp "khói tỏa mù trời" cũng không ngăn nổi bước tiến của đoàn quân cảm tử. Áp sát chân lũy, các chiến sĩ xung kích bỏ các tấm mộc xuống làm thang vượt hào lũy, rút dao và các loại vũ khí khác xông vào chiến đấu dữ dội. Cùng lúc đó, theo sự chỉ huy của Vua Quang Trung, hàng vạn quân ta ào ạt xông lên tiếp chiến, đại bác và hỏa nổ của quân ta bắn dữ dội vào địch. Trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, địch chống cự không nổi, bỏ chạy toán loạn. Quân ta thừa thắng chém giết quân giặc, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối. Hửa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng cùng nhiều tên tướng khác bị tử trận. Đồn Ngọc Hồi bị hạ.

Hàng vạn quân Thanh tháo chạy về phía Thăng Long bị quân ta nghi binh nên dồn về làng Quỳnh Đô, định chạy qua cầu về Văn Điển rồi chạy về Thăng Long.

Theo kế hoạch, đạo quân của đô đốc Bảo đã mai phục sẵn ở mạn bắc Quỳnh Đô, đổ ra dồn địch vào khu Đầm Mực mà tiêu diệt.

Cùng lúc đó, theo kế hoạch đã định, đạo quân của đô đốc Long tiến công như vũ bão vào đồn Khương Thượng - Đống Đa. Bị tấn công bất ngờ, quân giặc hoảng loạn, chống đỡ yếu ớt. Hàng ngàn quân Thanh tử trận. Nhân dân 9 xã ngoại thành đã sôi nổi bện rơm thành hình rồng, đốt lên xông vào doanh trại giặc trợ chiến tạo thành vòng cung lửa bao vây đồn giặc. Tướng chỉ huy giặc là Sầm Nghi Đống tuyệt vọng đã thắt cổ chết tại Sở chỉ huy. Hàng trăm thân binh của hắn cũng tự sát theo. Thừa Thắng, đô đốc Long hô quân đánh thẳng vào trung tâm Thăng Long.

Vào canh tư sáng mồng 5 Tết, tiếng súng nổ liên hồi ở mạn Tây Nam đã làm Tôn Sĩ Nghị thức giấc. Được tin đồn Ngọc Hồi và đồn Đống Đa bị thất thủ, y hốt hoảng, nhảy lên "ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp" cùng một số tùy tùng chạy qua cầu phao, vượt sông Hồng lên mạn Bắc. Quân sỹ thấy chủ tướng đã bỏ chạy, bèn hùa nhau chạy theo, chen chúc, xô đẩy nhau vượt qua cầu, cầu gãy, hàng vạn quân Thanh rơi xuống nước chết, trôi theo dòng sông Nhị. Tàn quân của Tôn Sĩ Nghị chạy đến Phượng Nhãn thì bị đạo quân của đại đô đốc Lộc đổ ra đánh giết, phải chui lủi theo đường rừng chạy về nước, khi qua Tuyên Quang, chúng cũng bị các đội dân binh người Tày đón đánh  tơi bời, phải vất vả lắm đám tàn quân này mới chạy được về đến Vân Nam.

Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-01-1789), Vua Quang Trung ngồi trên mình voi, áo bào sạm đen khói súng, dẫn đầu đạo quân tiến vào giải phóng Thăng Long giữa cảnh mừng vui khôi xiết của nhân dân.

Như vậy, đúng như dự kiến và lời hứa hẹn của vị Tổng chỉ huy, với tài dùng binh táo bạo, thần tốc, chưa đầy 5 ngày đêm, đội quân bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh, đập tan hoàn toàn mộng xâm chiếm nước ta của nhà Mãn Thanh, cũng như mưu đồ "Rước voi về giày mồ" của bè lũ Lê Chiêu Thống, giữ vững nền độc lập của dân tộc. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa và tên tuổi của người anh hùng áo vải Quang Trung mãi mãi sáng ngời trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc anh hùng của dân tộc ta.

Sau chiến thắng Đống Đa, Nguyễn Huệ lại vội trở lại Phú Xuân để lo việc diệt Nguyễn Ánh, trao lại binh quyền cho Ngô Vǎn Sở và Ngô Thì Nhậm.

Theo phương lược ngoại giao đã được Quang Trung vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo, Ngô Thì Nhậm đã bình thường được mối bang giao với nhà Thanh, buộc sứ Thanh phải vào tận Phú Xuân phong vương cho Nguyễn Huệ. Rồi Hoàng đế Quang Trung giả đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Kiền Long nhà Thanh.

Nǎm 1792, sau khi gửi thư đến vua nhà Thanh xin được sánh duyên cùng một nàng công chúa Bắc quốc và xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây làm đất đóng đô. Vua Quang Trung đã sai Đô đốc Vũ Vǎn Dũng làm chánh sứ sang triều kiến vua Kiền Long. Vua Kiền Long đã chuẩn tấu gả công chúa khuê các sang đẹp duyên cùng Quốc vương nước Nam và tỉnh Quảng Tây được hứa sẽ nhường cho Quốc vương phò mã đóng đô.

Giữa lúc đoàn sứ bộ đang mừng vui vì sắp hoàn thành sứ mệnh được giao, thì được tin sét đánh: Vua Quang Trung đã từ trần. Mọi việc đều bị gác lại, Vũ Vǎn Dũng đành ôm hận trở về nước.

Nguyên do: Một buổi chiều đầu Thu nǎm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi là chứng "huyễn vận", còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não. Khi tỉnh dậy, nhà vua cho triệu trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Nghệ An. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình nhà vua đã nguy kịch. Trước khi mất, nhà vua đã cǎn dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:

"… Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử (Nguyễn Quang Toản) tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Ánh) là quốc thù, mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!".

Ngày 29 tháng 7 nǎm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ đêm, Quang Trung Nguyễn Huệ từ trần, ở ngôi được 4 nǎm, thọ 39 tuổi. Biết bao dự kiến to lớn của người anh hùng kiệt xuất của dân tộc chưa thực hiện được!

Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi vua cha.

3. Hoàng đế Cảnh Thịnh (1793-1802):

Niên hiệu:        - Cảnh Thịnh (1793-1801)

                        - Bảo Hưng (1801-1802)

Vua Quang Trung mất, Nguyễn Quang Toản là con trưởng mới 10 tuổi lên ngôi vua nǎm Quý Sửu (1793), lấy niên hiệu Cảnh Thịnh.

Quang Toản lên ngôi vua, dùng cậu là Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư Giám quốc trông coi mọi việc trong ngoài. Vì Quang Toản còn nhỏ quá, Bùi Đắc Tuyên ngày càng chuyên quyền, trong ngoài đều oán. Đại thần trong triều ngoài trấn nghi kỵ lẫn nhau.

Bọn cận thần gièm pha, rằng Trần Quang Diệu oai quyền quá lớn, mưu đồ cướp ngôi, Quang Toản tin là thật, rút hết binh quyền của Trần Quang Diệu. Nội bộ các tướng lĩnh Tây Sơn lục đục nên thế lực ngày càng suy yếu.

Nǎm Canh Thân (1800), Nguyễn Ánh vượt biển ra đánh thành Quy Nhơn, tướng Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng.

Nǎm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, Quang Toản chống giữ không nổi, Phú Xuân bị chiếm, Quang Toản phải chạy ra Bắc Hà, đổi niên hiệu là Bảo Hưng.

Ngày 16 tháng 6 nǎm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh tập trung lực lượng đánh chiếm kinh đô Thǎng Long, không chống đỡ nổi, Cảnh Thịnh cùng em là Quang Thuỳ bỏ thành chạy theo hướng Bắc, bị bọn thổ dân đất Kinh Bắc bắt được, đóng cũi đưa về Thǎng Long. Các tướng Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng cũng lần lượt bị bắt.

Mùa đông nǎm 1802, Nguyễn Ánh về Phú Xuân cáo tế miếu, trả thù Tây Sơn cực kỳ tàn bạo và hèn hạ. Quang Toản và toàn gia cũng như một số tướng lĩnh Tây Sơn bị hành hình...

Quang Toản lên ngôi vua nǎm 1793, đến nǎm 1802 thì bị giết ở tuổi 20, ở ngôi được 9 nǎm. Như vậy triều Tây Sơn kể từ vua Thái Đức đến hết Cảnh Thịnh tồn tại được 24 nǎm.

 

XXII. NHÀ NGUYỄN (1802-1945) 143 NĂM,

QUỐC HIỆU VIỆT NAM (TỪ MINH MẠNG) (1838)

LÀ ĐẠI NAM, KINH ĐÔ HUẾ (THỪA - THIÊN)

1. Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh) (1802-1820):

Niên hiệu: Gia Long (1802 - 1820)

Nguyễn Phúc Ánh, sinh ngày 15 tháng 01 nǎm Nhâm Ngọ (08-02-1762), con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân. Mẹ Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Thị Hoàn, con gái Diễm Quốc Công Nguyễn Phúc Trung, người làng Minh Linh, phủ Thừa Thiên. Nǎm 1773, Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn Phúc Ánh 12 tuổi, theo chúa Nguyễn Phúc Thuần vào Quảng Nam. Mùa Thu nǎm Đinh Dậu (1777) Nguyễn Phúc Thuần tử trận.

Nguyễn Phúc Ánh một mình chạy thoát ra đảo Thổ Chu, rồi sau chạy sang ẩn náu nhờ bên đất Xiêm.

Tháng 7 năm 1792, Vua Quang Trung bị bạo bệnh mất, con là Quang Toản còn ít tuổi, nội bộ lục đục, không sao chống nổi với sức tấn công của Nguyễn Ánh (có Pháp ngoại viện). Nǎm 1802, Nguyễn Ánh diệt xong nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu là Gia Long đóng đô tại thành Phú Xuân (Huế) vào ngày 1 tháng 6 nǎm Nhâm Tuất (1802).

Gia Long phái một đoàn sứ thần do Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên Nam Việt sẽ lẫn với nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt và Tây Việt) nên đổi tên là Việt Nam.

Nǎm Giáp Tý (1804), Án sát Quảng Tây là Tề Bồ Sâm được vua Thanh phái sang phong Vương cho Gia Long và đặt tên nước là VIỆT NAM.

Năm 1811, Gia Long cho trở lại tên là Đại Việt.

Lần đầu Gia Long quản lý một nước Việt Nam thống nhất từ Bắc chí Nam, từ Lạng Sơn đến Hà Tiên, Gia Long chia cả nước làm 23 trấn, 4 doanh. Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn); từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành gồm 5 trấn; ở giữa là các trấn độc lập: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, đất kinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Đức Doanh (tức Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh, Quảng Nam doanh.

Để tránh lộng quyền, Gia Long không đặt chức Tể tướng, triều đình chỉ có 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công do các Thượng thư đứng đầu có Tả hữu tham tri, Tả hữu thị lang giúp việc. Ở trong cung không lập ngôi Hoàng hậu, chỉ có Hoàng phi và các cung tần.

Nǎm 1815, bộ "Hoàng Việt luật lệ" gồm 22 quyển với 398 điều luật đã được ban hành.

Gia Long đã giết hại hai công thần bậc nhất của triều Nguyễn lúc đó là Nguyễn Vǎn Thành và Đặng Trần Thường.

Gia Long có hai vợ chính và nhiều vợ khác; có 13 hoàng tử và 18 công chúa.

Con cả là Chiêu chết sớm, con thứ là Hoàng tử Cảnh đã từng theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, về nước được lập làm Thái tử, nǎm 1801 bị bệnh đậu mùa rồi mất.

Còn bà vợ thứ hai là Thuận Thiên Cao hoàng hậu họ Trần, người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, con gái Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt là Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm được tấn phong là Hoàng Thái tử.

Ngày 19 tháng chạp nǎm Kỷ Mão (03-02-1820), Gia Long mất, thọ 59 tuổi, ở ngôi chúa 25 nǎm, ở ngôi vua 18 nǎm.

2. Thánh Tổ (Nguyễn Phúc Đảm) (1820-1840):

Niên hiệu: Minh Mệnh (1820-1840)

            Minh Mệnh tên huý là Nguyễn Phúc Đảm còn tên nữa là Phúc Kiểu, sinh ngày 23 tháng 4 nǎm Tân Hợi (25-5-1791), là con thứ của Gia Long. Tháng giêng nǎm Canh Thìn (1820), thái tử Đảm lên ngôi vua, niên hiệu là Minh Mệnh.

Minh Mệnh có tư chất thông minh, hiếu học, nǎng động và quyết đoán. Minh Mệnh đặt ra lệ: các quan ở Thành, Dinh, Trấn vǎn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; võ từ Thống quản cơ đến Phó vệ uý... ai được thǎng điện, bổ nhiệm... đều phải đến kinh đô gặp Vua, để Vua hỏi han công việc, kiểm tra nǎng lực và khuyên bảo.

Là người tinh thâm nho học, sùng đạo Khổng, Mạnh, Minh Mệnh rất quan tâm đến học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Nǎm 1821 cho dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế Tửu và Tư nghiệp, mở lại thi Hội và thi Đình, trước 6 nǎm một khoa thi, nay rút xuống 3 nǎm.

Minh Mệnh cho lập Quốc sử quán để biên soạn lịch sử dân tộc qua các triều đại.

Dưới triều Minh Mệnh, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi như: Nông dân nghèo khổ nổi lên chống các quan lại nhũng nhiễu, hà khắc do Phan Bá Vành khởi xướng ở Bắc Bộ. Lê Duy Lương (cựu thần nhà Lê) nổi lên chống lại triều đình Huế. Nông Văn Vân (người thiểu số) nổi lên ở Hòa Bình, Thanh Hóa,… Minh Mệnh phải cử các tướng Trương Minh Giảng, Tạ Quang Cự, Nguyễn Công Trứ đem quân đi đánh dẹp.

Năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi (con nuôi Lê Văn Duyệt) khởi binh ở Gia Định chống lại triều đình. Lê Văn Khôi sai người sang Xiêm cầu cứu, người Xiêm đã cử 5 đạo  quân thủy bộ sang giúp Lê Văn Khôi đánh nhà Nguyễn.

Các tướng Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, đã đại phá quân Xiêm đuổi ra khỏi bờ cõi. Không dừng ở đó, năm Ất Mùi (1835), nhà Nguyễn còn cho quân tiến sang Nam Vang đưa vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân về nước.

Các tướng Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân từ Nam Vang tiến lên đánh quân Xiêm liền mấy trận, chém tướng bắt quân, thu được súng ống, khí giới nhiều không kể hết. Tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đem đại binh chạy về nước, quan quân đuổi đánh lấy lại thành Phu Túc (Pursat) giao cho người Chân Lạp ở lại giữ các nơi!.

Các tướng Nguyễn Văn Xuân, Phạm Văn Điển và Lê Văn Thụy cũng đánh tan liên quân Xiêm - Lào ở mặt trận Quảng Trị, Nghệ An và Trấn Ninh giữ vững được bờ cõi.

Minh Mệnh cũng rất quan tâm đến võ bị, nhất là thủy quân, nên đã sai người tìm hiểu cách đóng tầu của Châu Âu và ước vọng làm cho người Việt ta đóng được tầu kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương.

Năm 1831-1832, Minh Mệnh cải cách hành chính đã bỏ hai tổng trấn chia cả nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên (trực thuộc trung ương).

Các trấn phía Bắc thành 18 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái  Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Các dinh trấn phía Nam thành 12 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa, An Giang, Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tiên.

Minh Mệnh đã cho hoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai trương ven biển Bắc Bộ lập thêm hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải.

Về đối ngoại, Minh Mệnh đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh, nhưng lại lạnh nhạt và nghi kỵ đối với các nước phương Tây, do vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Năm 1838, Minh Mệnh đổi tên nước là Đại Nam.

Để bảo đảm đế nghiệp lâu dài cho mình và các con cháu, Minh Mệnh đã thảo ra 11 bài thơ, trong đó một bài "Đế hệ thi" và 10 bài "Phiên hệ thi", mỗi bài 4 câu, 20 từ, từ có nghĩa tốt, uyên bác dùng làm tiền từ cho 20 đời nối tiếp nhau kể từ Minh Mệnh.

Bài thơ: "Đế hệ thi" có 4 câu, 20 từ:

Miên, Hồng, Ưng, Bửu ,Vĩnh,

Bảo, Quý, Định, Long, Trường,

Hiền, Nǎng, Kham, Kế, Thuật,

Thế, Thụy, Quốc, Gia, Xương.

Theo phép đặt tên đôi này, tất cả con trai của Minh Mệnh đều phải có tiền từ "Miên" ghép với tên của gia đình đặt, tiếp đến con của thế hệ "Miên" là "Hồng"... Cứ thế liên tiếp 20 từ là 20 thế hệ, Minh Mệnh hy vọng đế nghiệp sẽ truyền lại cho 20 đời con cháu khoảng 500 nǎm. Nhưng triều Nguyễn chỉ thực hiện được đến từ thứ 5 "Vĩnh Thuỵ" (tức Bảo Đại thì bị Cách mạng tháng 8 nǎm 1945 lật đổ).

Minh Mệnh có rất nhiều vợ nên đã có 78 hoàng tử và 64 công chúa, tổng cộng 142 người con.

Tháng 12 nǎm 1840, Minh Mệnh ốm nặng rồi mất vào ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý (20-01-1841), trị vì được 20 nǎm, thọ 51 tuổi.

3. Hiến Tổ (Miên Tông) (1841-1847)

Niên hiệu: Thiệu Trị (1841-1847)

Thiệu Trị tên huý là Phúc Tuyền sau đổi là Miên Tông, là con trưởng của Minh Mệnh và mẹ là Thuận Đức Thần Phi Hồ Thị Hoa, sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh Mão (16-06-1807).

Ngày 20 tháng Giêng nǎm Tân Sửu (11-02-1841) Miên Tông lên ngôi vua đặt niên hiệu là Thiệu Trị, lúc đó đã 34 tuổi. Thiệu Trị lên ngôi vua cứ theo quy chế được sắp đặt từ thời Minh Mệnh mà làm theo di huấn của cha.

Thiệu Trị đã đắp đê, đập chặn ngang cửa sông Cửu An.

Về đối ngoại, Thiệu Trị dàn xếp mối bang giao với Chân Lạp.

Về quan hệ với phương Tây, một số giáo sĩ bị bắt giam từ trước tại Huế, bị kết án tử hình, nay Thiệu Trị cho được tự do nhờ sự can thiệp của hải quân Pháp. Nǎm 1847, Pháp sai một đại tá, một trung tá đem hai chiến thuyền vào Đà Nẵng xin bỏ chỉ dụ cấm đạo và cho tự do tín ngưỡng. Hai bên đang thương lượng thì Pháp dùng đại bác bắn đắm thuyền của Việt Nam đỗ bên cạnh rồi chạy ra biển.

Thiệu Trị vô cùng tức giận, lại ban thêm sắc dụ cấm người ngoại quốc giảng đạo và trị tội người trong nước đi đạo.

Ngày 27 tháng 9 nǎm Đinh Mùi (04-10-1847), Thiệu Trị bị bệnh rồi mất, ở ngôi được 6 nǎm, thọ 41 tuổi.

Thiệu Trị có 29 hoàng tử, 35 công chúa, tổng cộng 64 người con.

4. Dục Tông (Hồng Nhậm) (1847-1883)

Niên hiệu: Tự Đức (1847-1883)

Tự Đức tên huý là Nguyễn Phúc Thì sau đổi là Hồng Nhậm, sinh ngày 25 tháng 8 nǎm Kỷ Sửu (22-9-1829) là con thứ hai của Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng, con gái Thượng thư Bộ Lễ Phạm Đǎng Hưng.

Tháng 10 nǎm Đinh Mùi (1847), Hồng Nhậm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi.

Tự Đức ốm yếu nên ít đi kinh lý, do đó ít sát dân tình, ngày càng trở nên quan liêu. Bù lại sức khỏe yếu, Tự Đức lại rất thông minh và có tài vǎn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Tự Đức là một trong những người uyên bác về Nho học và Khổng học thời đó.

Tự Đức là người con rất có hiếu, mẹ là bà Từ Dụ. Tự Đức quy định ngày lẻ thì thiết triều, ngày chẵn vào chầu thǎm mẹ, mỗi tháng 15 ngày thiết triều, 15 ngày vào hầu mẹ, khi vào hầu thì sửa mình, nén hơi, quỳ xuống hỏi thǎm sức khoẻ, rồi cùng mẹ luận bàn kinh sách và sự tích xưa nay, nhất là chính sự. Bà Từ Dụ là người thuộc nhiều sử sách mà biết việc đời cũng rộng. Hễ mẹ nói câu gì hay, Vua ghi ngay vào cuốn sổ nhỏ gọi là "Từ huấn lục".

Tự Đức thiếu tính quyết đoán, thường dựa vào triều thần, bàn việc triều thần thì rất bảo thủ, do đó khi trên thế giới, khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, các cường quốc đang cạnh tranh buôn bán ngày càng gay gắt, thì vua tôi chỉ lo việc nghiên bút, bàn đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu xa xưa làm tấm gương, nên Tự Đức "bế quan toả cảng" cấm buôn bán gay gắt.

Khi thành Gia Định (Sài Gòn) rơi vào tay Pháp, thì triều đình bó tay không có kế gì hay.

Nhiều người có con mắt nhìn xa thấy rộng như Phạm Phú Thứ (1864), Nguyễn Trường Tộ (1866), Đinh Vǎn Điền (1868), Nguyễn Hiệp (1867), Lê Đĩnh (1881)... dâng sớ điều trần xin nhà vua cải cách mọi mặt: chính trị, kinh tế, quân sự... theo gương Nhật Bản, Thái Lan, Hương Cảng... và các nước phương Tây thì phái bảo thủ trong triều đình cho là nói nhảm, nên Tự Đức cũng không chấp nhận.

Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo chiến hạm đến dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng. Sáng ngày 01-9-1858, chúng cho tầu chiến bắn đại bác lên gác đồn Điện Hải, An Hải, sau đó chúng cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà mở đầu cuộc xâm lược nước ta.

Đầu năm Tân Dậu (1861) giặc Pháp đánh chiếm thành Gia Định (Sài Gòn).

Bọn thực dân Pháp đã dùng sức ép quân sự buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng với hiệp ước năm Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế cắt nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Bộ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và các đảo Côn Lôn cho Pháp tiếp sau đó năm 1867 triều đình Huế lại nhường nốt ba tỉnh miền Tây Nam Bộ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) cho Pháp, tức là toàn bộ Nam Kỳ trở thành nhượng địa của Pháp. Giặc Pháp dùng Nam Bộ làm bàn đạp để thôn tính toàn bộ nước ta.

Trong khi triều đình Huế ươn hèn, liên tiếp đầu hàng giặc Pháp thì toàn dân Việt Nam, từ dân chúng đến các tầng lớp Sĩ phu, kể cả phần đông quan lại trước họa xâm lăng đều tỏ thái độ và quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp, không nề hy sinh tính mạng, đó là ý chí sắt đá và truyền thống chông xâm lược của dân tộc ta.

Trong khi đó, một bộ phận quan lại chóp bu của triều đình Huế, từ đầu họ dè dặt chủ trương cầu hòa, do đó thực dân Pháp càng lấn tới ép triều đình Huế phải đầu hàng.

Do triều đình ươn hèn như vậy nên phải ký hoà ước Quý Mùi (1883), rồi hoà ước Pa-tơ-nốt (1884), đất nước ta bị chia làm 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp.

Ngày 16 tháng 6 nǎm Quý Mùi (19-7-1883), Tự Đức mất, trị vì được 35 nǎm, thọ 55 tuổi.

Nguồn tin: Doanh nghiệp Hoàng Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn